- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Mỹ H.
- Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 61/2019/HN-ST Ngày:21/6/2019 “V/v Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hòa Hợp.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Cao Châu Tiếp;
- Bà Lý Thị Bé Năm;
Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Điền – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: Không tham gia.
Ngày 21 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 118/2019/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2019 về tranh chấp “Xin ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số:37/2019/QĐST-HN ngày 03/6/2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Mỹ H sinh năm 1997;
Địa chỉ: ấp A, xã B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Trần Văn N, sinh năm 1995;
Địa chỉ: ấp D, xã B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
(Chị H có đơn xin vắng mặt, anh N vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ H trình bày:
Chị H và anh Trần Văn N tự nguyện sống chung với nhau có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Khánh, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 58 ngày 18/5/2017. Thời gian đầu anh chị sống hạnh phúc đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn anh N không quan tâm chăm sóc gia đình, thường xuyên gây gỗ nhau, anh N chơi cờ bạc và nhiều lần đập phá đồ đạc trong nhà, chị đã nhiều lần khuyên anh N nhưng anh N không thay đổi tính tình chị và anh N đã ly thân từ năm 2018 đến nay. Nay chị thấy tình cảm không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh N.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Trần Minh A, sinh ngày 07/4/2017 hiện đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Minh A và yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Trần Văn N vắng mặt, mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, thông báo thụ lý vụ án, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị H và anh Trần Văn N tự nguyện sống chung với nhau có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Khánh, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang là hôn nhân hợp pháp. Nay tranh chấp được xem xét giải quyết theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định Điều 28, 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
Chị H có đơn xin vắng mặt lý do bận đi làm xa. Anh Trần Văn N vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
[2] Về nội dung: Xét tại đơn xin ly hôn, bản tự khai chị H yêu cầu xin ly hôn nguyên nhân do anh N không quan tâm chăm sóc vợ con, anh N thường xuyên chơi cờ bạc và hay gây gỗ với chị, mâu thuẫn tình cảm trầm trọng. Chị đã nhiều lần khuyên ngăn nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh N vẫn không thay đổi tính tình. Chị và anh N đã ly thân với nhau chị đã về nhà cha mẹ ruột của chị sinh sống từ năm 2018 cho đến nay. Nay thấy tình cảm không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh N.
Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị H và anh N đã phát sinh từ năm 2018. Chị H đã cố gắng khuyên anh N sửa chữa tính tình nhằm hàn gắn tình cảm để nuôi dạy con. Nhưng anh N vẫn không thay đổi tính tình. Tòa án nhiều lần mời anh N đến hòa giải đoàn tụ nhưng anh không đến. Điều này thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị H, anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được và yêu cầu ly hôn của chị H là có cơ sở phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Trần Minh A, sinh ngày 07/4/2017 hiện đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Minh A và yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng. Xét yêu cầu của chị H có cơ sở chấp nhận phù hợp với Điều 81, 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: chị H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5] Về án phí: Chị H và anh N phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, 110 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Mỹ H.
- Về tình cảm: Cho chị Nguyễn Thị Mỹ H được ly hôn với anh Trần Văn N.
- Về con chung: Giao cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Trần Minh A, sinh ngày 07/4/2017 hiện đang sống với chị. Anh N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Trần Minh A mỗi tháng 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) cho đến khi cháu tròn 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản.
- Về án phí HNST:
Chị H phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng chị được trừ vào số tiền tạm ứng 300.000 đồng theo biên lai số 0002236 ngày 05/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy. Xem như chị H đã nộp xong.
Anh Trần Văn N phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Chị H, anh N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Án tuyên và kết thúc cùng ngày./.
| * Nơi nhận: - TAND tỉnh TG; - VKSND TX Cai Lậy; - C.C THADS TX Cai Lậy ; - Ñöông söï ; - UBND xã Long Khánh- TXCL; - Löu hoà sô. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hòa Hợp |