- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh số 01 Trà Vinh.
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH TỈNH TRÀ VINH _____ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2019/DS-ST Ngày 28 - 11 - 2019 Về việc “Tranh chấp hợp đồng vay” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Gẫm
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Trinh
Ông Võ Quốc Vinh
- Thư ký - phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tuyền, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Phượng, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2019 Tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 239/2019/TLST- DS ngày 16 tháng 9 năm 2019. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2019/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 10 năm 2019 (Quyết định hoãn phiên tòa số: 99/2019/QĐST-DS ngày 11/11/2019 giữa:
Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
Trụ sở: Số 02 Láng Hạ, Quận Ba Đình, Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Ngọc Khánh – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên. Người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng ông Ngô Văn Tuấn – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh số 01 Trà Vinh (theo văn bản ủy quyền số: 510/QĐ/HĐQT-PC ngày 19/6/2014). Ông Ngô Văn Tuấn ủy quyền cho ông Nguyễn Minh Phụng tham gia tố tụng (theo văn bản ủy quyền số 381/NH01-CN01 ngày 27/11/2019); Trụ sở Chi nhánh: Số 85 Quang Trung, phường 4, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh. Có mặt
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bích N, sinh năm 1968 (vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp Sa Bình, xã Long Đức, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Sơn L (vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp Sa Bình, xã Long Đức, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Minh Phụng trình bày: Bà Nguyễn Thị Bích N có vay tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh số 01 Trà Vinh theo Hợp đồng tín dụng số 7401LAV201802056 ngày 01/08/2018 với số tiền là 190.000.000đ. Từ ngày vay cho đến nay, bà N đã trả cho Ngân hàng tiền gốc là 45.000.000đ, lãi 6.550.684đ. Tính đến nay, bà Nguyễn Thị Bích N không trả gốc và lãi đúng hạn cho Ngân hàng, hiện nay dư nợ còn lại là 145.000.000đ và lãi tính đến ngày 23/10/2019 là 13.293.150đ. Nay, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh số 01 Trà Vinh yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Bích N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Sơn L phải hoàn trả cho Ngân hàng tổng số tiền 159.723.287đ. Trong đó nợ gốc là 145.000.000đ, tiền lãi tính đến ngày 28/11/2019 (ngày xét xử sơ thẩm) là 14.723.287đ. Ngoài ra, Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Bích N và ông Sơn L tiếp tục chịu lãi quá hạn phát sinh từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi tất toán nợ gốc và lãi suất theo Hợp đồng đã ký.
Bà Nguyễn Thị Bích Ng và ông Sơn L vắng mặt tại phiên tòa.
Tại phiên tòa hôm nay, vị Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự. Thẩm phán thu thập chứng cứ, xây dựng hồ sơ chặc chẽ, đảm bảo thủ tục tố tụng; thực hiện tốt các qui định tại các Điều 48, 68, 70, 71, 72, 177, 196. 208, 209, 210, 211, 220 và Điều 234 BLTTDS.
Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, đề nghị Hội xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc bà Nguyễn Thị Bích N và ông Sơn L phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho Ngân hàng số tiền còn thiếu. Về án phí dân sự sơ thẩm buộc bà N phải có nghĩa vụ chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về Thẩm quyền: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh số 01 Trà Vinh khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Bích N và ông Sơn L phải trả cho Ngân hàng số tiền 159.723.287đ (trong đó: tiền gốc là 145.000.000đ, lãi 14.723.287đ), mục đích vay mua sắm đồ dùng trong gia đình, nên quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng vay” theo quy định tại khoản 3, Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà Nguyễn Thị Bích N là bị đơn có nơi cư trú tại ấp Sa Bình, xã Long Đức, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh nên tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh theo điểm a, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
Về nội dung: Quan hệ vay tiền giữa bà Nguyễn Thị Bích N với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh số 01 Trà Vinh là quan hệ vay tiền có xác lập Hợp đồng tín dụng số 7401LAV201802056 ngày 01/08/2018 với số tiền là 190.000.000đ; mục đích vay mua sắm đồ dùng; lãi suất là 10%/năm, thời hạn vay 60 tháng. Trong quá trình vay bà N đã trả cho Ngân hàng tổng số tiền là gốc là 45.000.000đ. Trong quá trình vay, bà N đã trả cho Ngân hàng số tiền gốc là 45.000.000đ, lãi 6.550.684đ. Hiện nay bà N còn nợ Ngân hàng số tiền 159.723.287đ (trong đó: tiền gốc là 145.000.000đ, lãi 14.723.287đ) chưa trả.
Xét thấy, tại thời điểm ký kết hợp đồng vay tiền với Ngân hàng cho đến thời điểm ngày 01/02/2019 thì bà N còn trả nợ cho Ngân hàng lần cuối, tại thời điểm này bà N vẫn còn cư trú tại ấp Sa Bình, xã Long Đức, thành phố Trà Vinh nhưng sau đó bà N đã thay đổi nơi cư trú mà không thông báo cho Ngân hàng biết về nơi cư trú mới của mình theo quy định tại khoản 3, Điều 40; điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật dân sự năm 2015, nên được coi là bà N cố tình giấu địa chỉ. Tòa án đã cấp tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, Thông báo phiên họp công khai chứng cứ, phiên hòa giải và Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bà Ngọc nhưng bà N không ghi ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, xem như bà N thừa nhận có vay tiền của Ngân hàng và còn thiếu nợ chưa trả. Do đó, Hội đồng xét xử buộc bà N phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền còn thiếu nêu trên là có căn cứ. Đồng thời, buộc ông Sơn L phải có nghĩa vụ liên đới cùng bà N trả cho Ngân hàng số tiền còn thiếu. Vì, theo hợp đồng tín dụng ký kết với Ngân hàng thì ông Sơn L có ký với tư cách người thừa kế. Theo đại diện Ngân hàng trình bày ý kiến thì ông Sơn L là chồng bà N. Do đó, Hội đồng xét xử buộc ông Sơn L phải có nghĩa vụ liên đới cùng bà N trả nợ cho Ngân hàng. Ngoài ra, Hội đồng xét xử còn buộc bà N, ông L phải tiếp tục chịu lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng.
Về lãi suất cho vay của Ngân hàng là phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm cho vay.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Bích N và ông Sơn Lphải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên Ngân hàng không phải chịu án phí và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 146; Điều 147; Điều 186; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3, Điều 228, Điều 232; Điều 271 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 3 Điều 40; Điều 357, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 91; khoản 1 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh số 01 Trà Vinh.
Buộc bà Nguyễn Thị Bích N và ông Sơn L phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh số 01 Trà Vinh số tiền 159.723.287đ (trong đó: tiền gốc là 145.000.000đ, lãi 14.723.287đ).
Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị Bích N và ông Sơn L phải có nghĩa vụ nộp 7.986.164đ (Bảy triệu chín trăm tám mươi sáu ngàn một trăm sáu mươi bốn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh số 01 Trà Vinh không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 3.800.000đ theo biên lai thu tiền số 0004369 ngày 09/9/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 28/11/2019) bà Nguyễn Thị Bích N, ông Sơn L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 7401LAV201802056 ngày 01/08/2018 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị Bích N và ông Sơn L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân xã (phường) nơi bà N, ông L cư trú./. * Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND TP Trà Vinh; - THADS TP Trà Vinh; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Gẫm |