- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYEN TIEN P - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật qu…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI ___________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2018/HSST Ngày: 24-9-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
Vớ i thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giáp Bá Dự.
Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Minh Đứ c;
Ông Võ Hoàng.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Cường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24/8/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 58/2018/TLST-HS ngày 03/8/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 209/2018/QĐXXST-HS ngày 10/9/2018 đối với bị cáo sau:
Nguyễn Tiến P. Sinh ngày 02/9/1994 tại Gia Lai. Nơi cư trú: tổ dân phố 4, thị trấn P, huyện K, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến H và bà Phan Thị H; chưa có vợ, con; tiền án; tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 27/12/2012 bị Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tuyên phạt 04 tháng tù về tội “ Chống người thi hành công vụ”, được trả tự do tại phiên tòa. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/4/2018 đến ngày 03/5/2018 thì bị tạm giam cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Gia Lai. Có mặt tạ phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 24/4/2018 Công an huyện K, tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang đối với Nguyễn Tiến P, về hành vi Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng. Tang vật tạm giữ của P là 01 khẩu súng và 04 viên đạn.
Tại bản kết luận giám định số 1929/C54B ngày 27/4/2018 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
Khẩu súng gửi giám định là súng Tokarev (K54), cỡ nòng 7,62 cm, tiến hành bắn thực nghiệm khẩu súng với viên đạn tiêu chuẩn cỡ 7,62cmx25mm, kết quả đạn nổ. Khẩu súng và 04 viên đạn gửi giám định là vũ khí quân dụng.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Tiến P khai nhận:
Vào khoảng cuối tháng 2/2018 Nguyễn Tiến P đi đến khu du lịch B, thành phố P chơi, khi đang ngồi uống nước thì gặp một người tên là N (không biết địa chỉ cụ thể), đến nói chuyện và hỏi P : “có ai muốn mua ma túy đá không” ? P hỏi N “anh có bán ma túy đá hả, bán cho em 1.000.000 đồng”. Sau đó N đi lấy một gói ma túy đá đưa cho P và lấy 1.000.000 đồng, trước khi ra về P xin số điện thoại của N.
Đến khoảng cuối tháng 3/2018 khi đang ở phòng trọ tại tổ dân phố 4, thị trấn P, huyê ̣n K, tỉnh Gia Lai, Nguyễn Tiến P điện thoại cho N hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy đá, N đồng ý và nói: “anh đang đi công việc, có gì ngày mai anh đi Bình Định có việc, đi qua đường huyện K anh sẽ mang ma túy xuống cho em luôn”. Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày hôm sau, N đi xe ô tô bán tải màu trắng xuống huyện K và vào phòng trọ của P chơi, khi đến phòng trọ, N đưa cho P 01 gói ma túy đá, P đưa cho N 1.000.000 đồng, trong lúc ngồi nói chuyện thì N lấy ra một khẩu súng ngắn màu trắng đặt trên bàn uống nước, P hỏi N “ Khẩu súng này anh mua bao nhiêu, có bán không? Bán cho em đi”. N trả lời khẩu súng cùng với 06 viên đạn N mua với giá 35.000.000 đồng, nếu P muốn mua thì bán lại với giá 40.000.000 đồng và lấy 01 khẩu súng cùng với 06 viên đạn. Sau khi mua bán xong N lấy điện thoại của P và xóa số điện thoại của N lưu trong máy P.
Sau khi mua được súng, P giấu khẩu súng và đạn dưới tấm nệm trải giường trong phòng trọ, đến đầu tháng 4/2018 P lấy súng và 06 viên đạn đi đến khu vực thuộc tổ dân phố 12, thị trấn K bắn thử 01 viên đạn, kết quả đạn nổ. 05 viên đạn còn lại và khẩu súng P cất trong túi quần đi về phòng trọ thì rơi 01 viên đạn, còn lại 04 viên đạn và 01 khẩu súng P cất giấu trong phòng trọ của mình.
Đến ngày 22/4/2018 do thời tiết nóng nên P mang súng và đạn đi đến thuê phòng số 08 tại nhà nghỉ Ven Hồ ở Buôn T, xã P, huyện K để ở cho mát. Đến 16 giờ ngày 24/4/2018, khi P cất giấu súng trong người và đi ra bờ hồ trong khuôn viên nhà nghỉ Ven Hồ ngồi chơi thì bị Công an huyện K phát hiện và lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ 01 khẩu súng và 04 viên đạn.
Tại cáo trạng số 54/CT-VKS-P1 ngày 02/8/2018, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Nguyễn Tiến P về tội: “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến P phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”
- Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến P từ 14 đến 20 tháng tù.
- Vềvật chứng: Giao Bô ̣ chi huy quân sự̉
tinh Gia Laỉ
+01 khẩu súng ngắn K54 cỡ 7,62mm không có ốp tay cầm mầu trắng;
+02 viên đa ̣n cỡ 7,62mm x 25mm dướ i đit đa ̣n số hiê ̣u 53949; 711E;
́
+02 vỏ đạn đã bắn thực nghiệm quản lý và sử dụng theo thẩm quyền.
- Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tiến P thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ về hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒ A Á N:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hoạt động của các cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng hiện hành; các tài liệu, chứng cứ thu thập được có tại hồ sơ vụ án là đúng quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định mẫu vật…, đủ cơ sở khẳng định rằng: Cuối tháng 3/2018 Nguyễn Tiến P đã mua 01 khẩu súng cùng với 06 viên đạn của một người tên N (không rõ nhân thân lai lịch). Tại bản kết luận giám định số 1929/C54B ngày 27/4/2018 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Khẩu súng gửi giám định là súng Tokarev (K54), cỡ nòng 7,62 mm, tiến hành bắn thực nghiệm khẩu súng với viên đạn tiêu chuẩn cỡ 7,62mmx25mm, kết quả đạn nổ. Khẩu súng và 04 viên đạn gửi giám định là vũ khí quân dụng, đến đầu tháng 4/2018 P lấy súng ra bắn thử 01 viên đạn và làm rơi 01 viên đạn. Còn 04 viên đạn và khẩu súng P cất giấu trong phòng trọ của mình. Do vậy bị cáo Nguyễn Tiến P đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự năm 2015.
[3]Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, việc tàng trữ vũ khí quân dụng của bị cáo không những xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với vũ khí quân dụng, mà còn gây nhiều hệ lụy về tình hình an ninh trật tự của địa phương. Khi quyết định hình phạt có xem xét, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đinh bi ̣ cáo có
̀ công cách ma ̣ng như : ông nội được tă ̣ng Huân chươn g kháng chiến ha ̣n g nhì; bà nô ̣i được tă ̣ng Huân chươn g kháng chiến ha ̣n g ba; bà cố là mẹ Việt Nam anh hùng là các tình tiết giảm nhẹ được quy đi ̣nh ta ̣i khoản 1, 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bi ̣ cáo.
[4] Ngoài ra, quá trình điều tra, bị cáo còn khai nhận: khoảng cuối tháng 02/2018 và cuối tháng 03/2018 đã hai lần mua ma túy đá của N để sử dụng và hành vi bắn thử súng vào đầu tháng 4/2018 của bị cáo. Các hành vi này ngoài lời khai của bị cáo thì không thu giữ được ma túy đá, không xác định được người bán ma túy cũng như việc bị cáo đã dùng súng nên không có cơ sở để kết luận.
[5] Đối với người tên là N mà bị cáo P khai đa bã ́ n vũ khi và ma túy cho P , nhưng
́ không biết nhân thân lai li ̣ch của đối tượng này nên chưa có căn cứ để x ử lý. Đề nghi ̣ Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra xác minh, khi nào có căn cứ se xữ ̉ lý.
[6] Về vật chứng:
Giao Bô ̣ chi huy quân sự̉
tinh Gia Laỉ
+01 khẩu súng ngắn K54 cỡ 7,62mm không có ốp tay cầm mầu trắng;
+02 viên đa ̣n cỡ 7,62mm x 25mm dướ i đit đa ̣n số hiê ̣u 53949; 711E;
́
+02 vỏ đạn đã bắn thực nghiệm quản lý và sử dụng theo thẩm quyền.
[7] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Từ các nhận định trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến P phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”;
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến P, 18 ( Mườ i tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/4/2018.
3. Về Vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự;
̀
Giao Bô ̣ chi huy quân sự̉
tinh Gia Lai quản lý và sử dụng theo thẩm quyền đốỉ vớ i.
+01 khẩu súng ngắn K54 cỡ 7,62mm không có ốp tay cầm mầu trắng;
+02 viên đa ̣n cỡ 7,62mm x 25mm dướ i đit đa ̣n số hiê ̣u 53949; 711E;
́
+02 vỏ đạn đã bắn thực nghiệm.
Đặc điểm vật chứng t heo quyết định tiếp nhận vũ khí trang bị số 2614/QĐ-BCH ngày 11/6/2018 của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Gia Lai
4. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12 /2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Tiến P phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Viện KSND cấp cao - Viện KSND tỉnh Gia lai; - Công an tỉnh Gia Lai; - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai; - Cục THADS tỉnh Gia Lai; - Bộ chỉ huy QS tỉnh Gia Lai; - Trại tam giam T20; - Bị cáo; - Lưu Tòa HS, VT, Hồ sơ vụ á n. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đa kỹ ́) Giáp Bá Dự |