- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng N phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2018/HSST Ngày: 27-3-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Nhi
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Thiện
2. Bà Đỗ Thị Lệ Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Mỵ – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2018/HSST ngày 19 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 176/2018/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2018 đối với các bị cáo:
Nguyễn Hoàng N, sinh năm: 1998, tại K; nơi đăng ký thường trú: Ấp H, xã H, huyện G, tỉnh K; chỗ ở cũ: ấp H, xã H, huyện G, tỉnh K; chỗ ở mới: Số 190/12N, nhà trọ G, hẻm 534 đường B, phường H, quận N, thành phố C; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu M và bà Nguyễn Thị P, bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: chưa.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Nguyễn Thế C, sinh năm 1997 (vắng mặt)
Nơi đăng ký thường trú: ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh H
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 17/11/2017, Nguyễn Hoàng N đi một mình về phòng trọ số 01, nhà trọ số 68C/22/8A, đường B, khu vực S, phường H, quận N không thấy Nguyễn Thế C và Phan Quốc V là bạn ở chung phòng, N lên gác nằm nghỉ chợt nhìn thấy laptop của C để dưới gối đầu nằm nên N nảy sinh ý định lấy trộm máy laptop cùng dây sạc bỏ vào túi chống sốc đựng máy rời khỏi phòng trọ, trước khi đi, sợ C và V nghi ngờ nên N lấy ổ khóa vứt ngoài bãi cát gần đầu hẻm vào phòng trọ. Sau đó, N mang laptop đến tiệm cầm đồ số 121 đường L, phường A, quận N cầm cho chị Lương Huỳnh Diễm H với số tiền 1.500.000 đồng. Đến khoảng 20 giờ 15 phút cùng, C phát hiện mất laptop nên đến Công an phường Hưng Lợi trình báo sự việc.
Sau khi tiếp nhận tin báo vụ việc, Công an phường Hưng Lợi tiến hành mời N về trụ sở làm việc, N khai nhận đã thực hiện vụ trộm nêu trên và tự nguyện giao nộp số tiền cầm máy là 1.500.000 đồng và 01 biên nhận cầm máy Laptop, hiệu HP, màu đen.
Tang vật thu giữ gồm: 01 máy Laptop, hiệu HP 1000 core i5, màu đen cùng cục sạc, tiền Việt Nam: 1.500.000 đồng.
Tại Biên bản định giá tài sản số 1250/BB-HĐĐG ngày 20/11/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự, xác định máy laptop HP có giá trị là 4.500.000 đồng (bút lục 11).
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Hoàng N khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Qua làm việc chị H khai nhận N có mang laptop đến tiệm cầm với số tiền 1.500.000 đồng, khi cầm máy cho N, chị H không biết nguồn gốc tài sản do trộm cắp mà có. Chị H đã giao nộp máy laptop hiệu HP, màu đen và dây sạc cho Cơ quan điều tra.
Đến ngày 27/11/2017 và ngày 06/12/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Ninh Kiều đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại các tài sản sau đây cho Nguyễn Thế C: 01 máy Laptop, hiệu HP, màu đen; 01 cục sạc của máy và 01 túi chống sốc; trả cho Lương Thị Diễm H số tiền Việt Nam:1.500.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thế C đã nhận lại tài sản và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo N.
Đối với Lương Huỳnh Diễm P không biết tài sản cầm cố trên là do phạm tội mà có nên không đề cập xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 51/CT-VKS ngày 17 tháng 01 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ đã truy tố các bị cáo Nguyễn Hoàng N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai đã đổi địa chỉ chỗ ở từ ấp H, xã H, huyện G, tỉnh K. Hiện nay bị cáo đang tạm trú tại số 190/12N (nhà trọ G), hẻm 534 đường B, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bị hại vắng mặt nhưng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo Nguyễn Hoàng N về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng N từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Đối với vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Trong quá trình điều tra và truy tố, Cơ quan Công an và Viện kiểm sát đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của người bị hại và các chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra vụ án. Điều này cho thấy bị cáo Nguyễn Hoàng N đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở khi quản lý tài sản của người bị hại lén lút lấy trộm các tài sản gồm: 01 Laptop, hiệu HP 1000 core i5. Tại Biên bản định giá tài sản số: 1250/BB-HĐĐG ngày 20/11/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự, xác định máy laptop HP có giá trị là 4.500.000 đồng.
Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét bị cáo đã thành niên, có đủ năng lực hành vi, có sức khỏe và khả năng lao động; Chỉ vì phút nong nổi muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của người bị hại để lén lút lấy trộm tài sản. Bị cáo biết rõ lấy trộm tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ và xâm phạm đến an ninh trật tự tại địa phương.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại đã đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 mà bị cáo được hưởng.
Bị cáo có nhân thân tốt, là sinh viên, ngoài lần phạm tội này cũng như trong thời gian tại ngoại bị cáo chấp hành đúng chính sách pháp luật của Nhà nước, bị cáo chưa thực hiện hành vi phạm tội nào khác, không vi phạm các điều cấm của pháp luật, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Sau khi phạm tội bị cáo đã thực sự ăn năn hối cải, có khả năng giáo dục ngoài xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo.
Vì vậy, Kiểm sát viên đề nghị mức hình phạt từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo là phù hợp với Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Theo lời khai của bị cáo đã thay đổi địa chỉ cư trú. Chỗ ở cũ: ấp H, xã H, huyện G, tỉnh K. Hiện nay bị cáo đang tạm trú tại số 190/12N (nhà trọ G), hẻm N đường B, phường H, quận N, thành phố C. Qua kết quả xác minh tại Công an phường Hưng Lợi thì hiện nay bị cáo đang sống tại địa chỉ số 190/12N (nhà trọ G), hẻm N đường B, phường H, quận N, thành phố C là đúng sự thật nên Hội đồng xét xử giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Ninh Kiều ra Quyết định xử lý vật chứng trả cho Nguyễn Thế C: 01 Laptop, hiệu HP 1000 core i5, màu đen, 01 cục sạc của máy và 01 túi chống sốc. Trả cho chị Lương Huỳnh Diễm H số tiền 1.500.000 đồng là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thế C đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với Lương Huỳnh Diễm P không biết tài sản cầm cố trên là do phạm tội mà có nên không đề cập xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 và điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng N 06 (sáu) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án.
Giao cho Ủy ban nhân dân phường H, quận N, thành phố C giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
2. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Ghi nhận việc Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Nguyễn Thế C: 01 Laptop, hiệu HP 1000 core i5, màu đen, 01 cục sạc và 01 túi chống sốc kèm theo máy. Trả cho chị Lương Huỳnh Diễm H số tiền 1.500.000 đồng.
Người bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Hoàng N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết) để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Các đương sự; - Công an Q. Ninh Kiều; - Sở Tư pháp TP. Cần Thơ; - Tòa án nhân dân TP.Cần Thơ; - Chi cục THADS Q. Ninh Kiều; - Viện kiểm sát nhân dân Q. Ninh Kiều; - Ủy ban nhân dân P. Hưng Lợi, Q. Ninh Kiều; - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Yến Nhi |