vanban.org

Bản án 61/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Cẩm Lệ, TP Đà Nẵng Tuyên án 22/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn H phạm tội:“Trộm cắp tài sản”

2/ Về căn cứ điều khoản và hình phạt: Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên thì tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn Hiếu phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn H phạm tội:“Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; luật tố tụng hình sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN CẨM LỆ, TP.ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2018/HS-ST
Ngày 22-11-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Hai

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Thu Hường

2. Bà Phạm Hồ Quỳnh Uyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ánh Nguyệt, Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy, chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 53/2018/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2018/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Ngô Văn H, sinh ngày 09 tháng 7 năm 1992 tại Quảng Nam; nơi cư trú: Tổ 14, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa 06/12; Dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông ( không rõ); và bà Đặng Thị Ngọc Th, sinh năm 1965; vợ Đặng Thị Thúy Ng, sinh năm: 1994, bị cáo có 01 con sinh năm 2013; tiền án,tiền sự: không; bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Người bị hại: Ông Nguyễn Kh, sinh năm: 1993. Trú tại: Tổ 13, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 28/7/2018, bị cáo Ngô Văn H đi bộ đến đường liên tổ 13, H, C, Đà Nẵng tìm tài sản để trộm cắp. Khi đến dãy phòng trọ tại tổ 13, H, C, bị cáo phát hiện vợ chồng anh Nguyễn Kh ngủ trong phòng trọ nhưng không khóa cửa nên bị cáo đẩy cửa vào phòng anh Khlấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi 5 Plus; 01 điện thoại di động hiệu Zenfone 2; 01 điện thoại di động hiệu Sky A910 để trên chiếu và số tiền 100.000đ rồi bỏ đi.

Sau trộm cắp các tài sản trên, số tiền 100.000đ bị cáo tiêu xài hết cho cá nhân còn 03 chiếc điện thoại, bị cáo đem về nhà cất giấu. Vào ngày 29/7/2018, anh Kh định vị được vị trí chiếc điện thoại tại nhà bị cáo nên đến công an trình báo, thu giữ 03 chiếc điện thoại trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 42/KL-ĐSTS ngày 03/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản quận Cẩm Lệ kết luận 03 chiếc điện thoại trên trị giá 4.674.000đ.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi 5 Plus; 01 điện thoại di động hiệu Zenfone 2; 01 điện thoại di động hiệu Sky A910, cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Kh. Anh Kh đã nhận lại tài sản đồng thời không yêu cầu bồi thường số tiền 100.000đ bị cáo lấy của anh Kh, do đó không đề cập xử lý

Bản cáo trạng số 48/CT-VKSCL ngày 07 tháng 11 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo Ngô Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 24 tháng.

Phần bồi thường dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi 5 Plus; 01 điện thoại di động hiệu Zenfone 2; 01 điện thoại di động hiệu Sky A910, cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Kh. Anh Kh đã nhận lại tài sản đồng thời không yêu cầu bồi thường số tiền 100.000đ bị cáo đã chiếm đoạt của anh Kh, không đề cập xử lý

Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Cẩm Lệ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó HĐXX có đủ cơ sở khẳng định: Vào lúc 01 giờ ngày 28/7/2018, Ngô Văn H lén lút vào phòng trọ anh Nguyễn Kh tại tổ 13, H, C, Đà Nẵng lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi 5 Plus; 01 điện thoại di động hiệu Zenfone 2; 01 điện thoại di động hiệu Sky A910 và số tiền 100.000đ. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 4.774.000đ (Bốn triệu bảy trăm bảy mươi bốn ngàn đồng).

Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Ngô Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt đươc quy định tại 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đánh giá tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã lợi dụng lúc anh Nguyễn Kh sơ hở trong việc quản lý tài sản của mình nên bị cáo đã lén lút vào phòng trọ của anh Khlấy tài sản gồm: 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi 5 Plus; 01 điện thoại di động hiệu Zenfone 2; 01 điện thoại di động hiệu Sky A910 và số tiền 100.000đ. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 4.774.000đ (Bốn triệu bảy trăm bảy mươi bốn ngàn đồng).

Hành vi này thể hiện bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân.

Tuy nhiên, tài sản mà bị cáo chiếm đoạt đã trả lại cho người bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và có nghề nghiệp ổn định, căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội cũng có tác dụng giáo dục.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội gây thiệt không lớn, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận, đồng thời người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, i,s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đánh giá về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi 5 Plus; 01 điện thoại di động hiệu Zenfone 2; 01 điện thoại di động hiệu Sky A910, cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Kh. Anh Khđã nhận lại tài sản đồng thời không yêu cầu bồi thường số tiền 100.000đ mà bị cáo chiếm đoạt của anh Khnên HĐXX không đề cập xử lý.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn H phạm tội:“Trộm cắp tài sản”

2/ Về căn cứ điều khoản và hình phạt:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, các điểm h,i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng, thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường Hòa Thọ Tây, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 2 lần trở lên thì tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3/Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ(Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4/Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo, những người tham gia tố tụng tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Những người tham gia tố tụng khác vắng mặt có quyền kháng cáo với thời hạn trên kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tạiĐiều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành ándân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ