vanban.org

Bản án 61/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 25/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng S phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng S 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính ngày 09-3-2018. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng các điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYEN HOANG S - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng S phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ DẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2018/HS-ST
Ngày: 25-7-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thùy Trang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trọn;

Ông Nguyễn Văn Thản.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Xuân Son là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Đức – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2018/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng S , tên gọi khác: Cu, Hiệp, sinh năm 1990, tại tỉnh Bình Dương. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và cư trú hiện nay: ấp D, xã V, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phước Hải, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị Hiền Tư, sinh năm 1972; Anh, chị, em ruột: Không có; vợ: Mai Thị Tuyết Minh, sinh năm 1997, con: Chưa có; tiền án: có 02 tiền án. Tại bản án số 13/2010/HS-ST ngày 09/4/2010 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Tại bản án số 99/2010/HSST ngày 21/11/2012 của Tòa án nhân dân huyện Tâm Biên, tỉnh Tây Ninh đã áp dụng điểm e khoản 2 Điều 138; điểm o, p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999 xử phạt 04 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản” chấp hành án tại trại giam Cây Cầy đến ngày 29/01/2016 thì chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa chấp hành án phí với số tiền 2.303.920 đồng cho đến ngày phạm tội; tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ ngày 09-3-2018 đến ngày 15-3-2018 bị tạm giam cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Anh Nguyễn Tấn Anh , sinh năm 1991; địa chỉ: Ấp 5, xã Đ, huyện D, tỉnh Tây Ninh (có mặt).

2. Chị Nguyễn Thị Gái, sinh năm 1989; địa chỉ: ấp N, xã K, huyện C, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

3. Anh Nguyễn Văn Hà, sinh năm 1972; địa chỉ: ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

4. Anh Nguyễn Thanh Phong, sinh năm 1987; địa chỉ: Ấp 5, xã Đ, huyện D, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Hoàng S không có nghề nghiệp, muốn có tiền tiêu xài cá nhân, khoảng 02 giờ ngày 09/3/2018, bị cáo đi bộ từ khu vực ấp Phước Đông, xã Phước Thạnh, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh đến tiệm rửa xe của anh Nguyễn Tấn Anh thuộc ấp 5, xã Bàu Đồn, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh phát hiện 01 bóp da bên trong có 1.000.000 đồng để trên xe mô tô hiệu Honda, loại Winner biển số: 70F1-551.91, chìa khóa xe để sẵn trên bàn, không có người trông coi nên S đến nổ máy xe chạy đi thì bị phát hiện bắt quả tang.

Kết luận định giá tài sản số: 20/KL-HĐ ngày 14/3/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xác định: 01 xe mô tô biển số: 70F1-551.91 có giá trị 36.500.000 đồng.

Qua điều tra, S còn khai nhận đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản khác trên địa bàn huyện Gò Dầu và huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 02 giờ ngày 22/12/2017, S lén lút đi bộ đến nhà ông Nguyễn Văn Hà thuộc ấp Thuận Tân, xã Truông Mít, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh phát hiện xe mô tô hiệu Tender biển số: 70E1-032.99 có sẵn chìa khóa trên xe, không người trông coi nên lấy trộm đem bán với số tiền 1.000.000 đồng lấy tiền tiêu xài hết cá nhân hết.

Kết luận định giá số: 18/KLĐG-HĐĐG ngày 19/3/2018 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xác định xe mô tô biển số: 70E1-032.99 có giá trị 2.900.000 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 02 giờ ngày 24/12/2017, S đến quán của chị Nguyễn Thị Gái thuộc ấp Khởi Nghĩa, xã Cầu Khởi, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh nhìn thấy cửa không khóa nên lén lút lấy trộm xe mô tô biển số: 70L1-036.02, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6, 01 máy tính xách tay hiệu Sony của chị Gái đem bán tổng cộng được 17.000.000 đồng lấy tiền tiêu xài hết.

Kết luận định giá số: 02/KLĐG-HĐĐG ngày 02/01/2018 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xác định xe mô tô biển số: 70L1-036.02; 01 điện thoại hiệu Iphone 6; 01 máy tính xách tay hiệu Sony có tổng giá trị là 102.000.000 đồng.

Vụ thứ ba: Khoảng 01 giờ ngày 19/01/2018, S đi bộ đến quán cà phê Thanh Vân thuộc ấp 2, xã Bàu Đồn, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh phát hiện anh Nguyễn Thanh Phong đang nằm ngủ nên lén lút lấy trộm 01 điện thoại hiệu Samsung J2, 01 xe mô tô biển số: 70L1-3683 và 01 bóp da bên trong có 1.700.000 đồng của anh Phong. Sau đó, S đem điện thoại và xe mô tô biển số: 70L1-3683 bán với giá 3.000.000 đồng lấy tiền tiêu xài cá nhân hết.

Kết luận định giá tài sản số: 18/KL-HĐ ngày 13/3/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xác định: 01 xe mô tô Wave Inco biển số: 70L1-3683 và 01 điện thoại di động hiệu Samsung J2 có tổng giá trị 3.400.000 đồng.

Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: 01 xe mô tô hiệu Winner biển số: 70F1-551.91 và 01 điện thoại hiệu Xiaomi Redmi Note 4 đã trả lại cho chủ sở hữu xong. Đối với 01 điện thoại Sonas A3; tiền Việt Nam 1.100.000 đồng; 01 đoạn kim loại; 01 khóa kim loại; 01 kiềm kim loại; 01 kéo kim loại; 01 tua vít thử điện đã chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Tấn Anh đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường. Anh Nguyễn Thanh Phong yêu cầu bồi thường 5.100.000 đồng, anh Nguyễn Văn Hà yêu cầu bồi thường 2.900.000 đồng, chị Nguyễn Thị Gái yêu cầu bồi thường 102.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu nhưng chưa bồi thường.

Về kê biên tài sản: Do bị cáo Nguyễn Hoàng S không có tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh không kê biên.

Đối với người đàn ông mua xe mô tô của Nguyễn Hoàng S trộm cắp mà có được do không rõ địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh không có cơ sở để xác minh làm rõ.

Đối với việc anh Lê Thiêm Huỳnh mất điện thoại hiệu Xiaomi Redmi Note 4 do chưa xác định được đối tượng phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh sẽ làm rõ xử lý sau.

Tại Cáo trạng số 55/CT-VKS-GD ngày 29-5-2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại các điểm b, c, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, c, g khoản 2 Điều 173, các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng S từ 05 năm đến 06 năm tù giam; miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết mình sai, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Gò Dầu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đã đủ căn cứ xác định: Khoảng 02 giờ ngày 09/3/2018, bị cáo đi bộ từ khu vực ấp Phước Đông, xã Phước Thạnh, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh đến tiệm rửa xe của anh Nguyễn Tấn Anh thuộc ấp 5, xã Bàu Đồn, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh phát hiện 01 bóp da bên trong có 1.000.000 đồng để trên xe mô tô hiệu Honda, loại Winner biển số: 70F1-551.91, chìa khóa xe để sẵn trên bàn, không có người trông coi nên bị cáo lén lút đến lấy xe và nổ máy chạy đi thì bị phát hiện bắt quả tang. Kết quả định giá xác định xe có giá trị 36.500.000 đồng. Ngoài lần phạm tội này, bị cáo còn trộm cắp tài sản 03 lần khác. Tổng tài sản bị cáo trộm có giá trị 147.500.000 đồng. Bị cáo không có nghề nghiệp, muốn có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo đã trộm cắp tài sản nhiều lần để bán và tiêu xài cá nhân hết. Hành vi phạm tội của bị cáo mang tính chất chuyên nghiệp. Bị cáo đã phạm tội khi chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, hành vi của bị cáo xét thấy đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại các điểm b, c, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được luật pháp bảo vệ, ảnh hưởng đến trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần xử lý nghiêm bị cáo nhằm đạt được mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Khi quyết định hình phạt, cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội, có thái độ ăn năn hối cải, ngoài lần phạm tội bị bắt quả tang, bị cáo đã tự khai các lần phạm tội trước. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Qua điều tra, bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về biện pháp tư pháp:

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô hiệu Winner biển số: 70F1-551.91 và 01 điện thoại hiệu Xiaomi Redmi Note 4 đã trả lại cho chủ sở hữu xong. Đối với tiền Việt Nam 1.100.000 đồng, trong đó của anh Nguyễn Tấn Anh 1.000.000 đồng, cần trả lại cho bị hại; 100.000 đồng của bị cáo và 01 điện thoại Sonas A3 của bị cáo, lẽ ra trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án; 01 đoạn kim loại, 01 khóa kim loại, 01 kiềm kim loại, 01 kéo kim loại, 01 tua vít thử điện không còn giá trị sử dụng, tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại các điều 47, 48 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của các bị hại với tổng số tiền là 110.000.000 đồng, cụ thể: anh Nguyễn Thanh Phong 5.100.000 đồng, anh Nguyễn Văn Hà 2.900.000 đồng và chị Nguyễn Thị Gái 102.000.000 đồng phù hợp với quy định tại Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự nên ghi nhận.

Về án phí: Áp dụng các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 5.100.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng S phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ các điểm b, c, g khoản 2 Điều 173; các điểm r, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng S 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính ngày 09-3-2018. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng các điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu và tiêu hủy 01 đoạn kim loại, 01 khóa kim loại, 01 kiềm kim loại, 01 kéo kim loại, 01 tua vít thử điện; Trả cho anh Nguyễn Tấn Anh 1.000.000 đồng trong số tiền 1.100.000 đồng đang bị tạm giữ, còn lại 100.000 đồng của bị cáo và 01 điện thoại Sonas A3 của bị cáo, lẽ ra trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án (Vật chứng hiện Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh đang tạm giữ);

Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự;

Ghi nhận bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của các bị hại là anh Nguyễn Thanh Phong 5.100.000 đồng, anh Nguyễn Văn Hà 2.900.000 đồng và chị Nguyễn Thị Gái 102.000.000 đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không bồi thường số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu thêm số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

3. Án phí: Áp dụng các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 5.100.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

TM HỘI Đ NG X T X

TH M

Cỡ chữ