- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đại B "Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thô…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đại B phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 135 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| T A N NH N D N C NG H A T NH L M Đ NG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2018/HS-PT Ngày: 19-9-2018 |
NHÂN DANH
N C C NG H A
H CH NGH A V T NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH L M Đ NG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Kim Đồng
Các Thẩm phán:
Ông Huỳnh Văn Hiệp
Bà Hoàng Thị Minh Hương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 85/2018/TLPT-HS ngày 20-7-2018 đối với bị cáo Nguyễn Đại B; do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 21/2018/HS-ST Ngày 06-6-2018 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đại B, sinh năm 1998 tại tỉnh Lâm Đồng; Nơi ĐKNKTT và cư trú: Thôn b, xã LT, huyện BL, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hoá: lớp 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đình S, sinh năm 1968; con bà Phạm Thị Thu H, sinh năm 1974; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Người bào chữa: Trợ giúp viên pháp lý Trần Thanh Xuân - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Trong vụ án này, đại diện bị hại bà Hứa Thị M không kháng cáo; không bị kháng nghị.
N DUNG VỤ N
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, hành vi bị cáo bị truy tố, xét xử được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ ngày 17-08-2017, bị cáo B điều khiển xe mô tô biển số 49H1-299.15 chở anh M theo hướng từ Quốc lộ 55 rẽ vào đường thôn b, xã LT, huyện BL, tỉnh Lâm Đồng. Bị cáo điều khiển xe lấn sang bên trái đường đã va chạm với xe mô tô biển số 49H1-103.22 do bị hại anh T điều khiển chở anh Quyền theo hướng ngược chiều. Hậu quả bị hại anh T bị chấn thương sọ não chết trên đường đi cấp cứu, bị cáo B, anh M, anh Q bị thương nhẹ, 02 xe bị hư hỏng nhẹ.
Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường theo hướng từ thôn b, xã LT đi ra Quốc lộ 55 (hướng bị hại anh T lưu thông) thể hiện tại ví trí xảy ra tai nạn, mặt đường trải nhựa bê tông rộng 06m, không có vạch sơn kẻ đường. Điểm va chạm (ký hiệu 04) được xác định dựa trên các dấu vết để lại tại hiện trường, có vị trí nằm bên phần chiều đường bên phải theo hướng từ thôn b, xã LT đi Quốc lộ 55, điểm va chạm cách lề chuẩn 4,30m, cách trục bánh trước môtô 49H1-103.22 (ký hiệu 02) là 0,40m, cách trục bánh trước xe môtô 49H1-299.15 (ký hiệu 03) là 1,10m.
Về vật chứng đã thu giữ 01 giấy phép lái xe; 01 chứng minh nhân dân của bị cáo Bình; thu giữ 01 giấy phép lái xe; 01 đăng ký xe 49H1-103.22 của bị hại anh Thời.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình đã bồi thường toàn bộ chi phí mai táng và các khoản thiệt hại khác là 110.000.000đ cho đại diện bị hại; bị hại có đơn bãi nại, đề nghị xin miễn trách nhiệm hình sự.
Tại bản án số 21/2018/HS-ST; ngày 06-6-2018 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Đại B phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
Áp dụng khoản 1 Điều 202 của Bộ luật hình sự năm 1999; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đại B 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn xử lý vật chứng, án phí, tuyên quyền kháng cáo theo quy định pháp luật;
Ngày 18-6-2018 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm; Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên mức hình phạt, áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH C A TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Vào khoảng 21 giờ ngày 17-08-2017, bị cáo B điều khiển xe mô tô biển số 49H1-299.15 chở anh M theo hướng từ Quốc lộ 55 rẽ vào đường thôn b, xã LT, huyện BL, tỉnh Lâm Đồng. Bị cáo điều khiển xe lấn sang bên trái đường đã va chạm với xe mô tô biển số 49H1-103.22 do bị hại anh T điều khiển chở anh Q theo hướng ngược chiều. Hậu quả bị hại anh T bị chấn thương sọ não chết trên đường đi cấp cứu, bị cáo B, anh M, anh Q bị thương nhẹ, 02 xe bị hư hỏng nhẹ. Đối chiếu lời khai của bị cáo, lời khai anh M, anh Q, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi. Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá toàn diện chứng cứ, đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Đại B phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 202 của Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ.
[2] Xét tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông tại địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã “bồi thường toàn bộ thiệt hại; bị cáo thành khẩn khai báo” quy định điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Bên cạnh đó, đại diện bị hại cũng đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, nên cũng đã được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo đề nghị được hưởng án treo, đối chiếu tài liệu chứng cứ thể hiện, ngoài việc bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo thật sự ăn năn hối cải thể hiện rằng gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nhưng bằng hàng động bồi thường toàn bộ thiệt hại. Tòa án cấp sơ thẩm chưa đánh giá hết tình tiết giảm nhẹ quy định điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng, trong khi đó bị cáo được hưởng 3 tình tiết giảm nhẹ quy định khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Đối với việc đại diện bị hại đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, tuy chưa được hướng dẫn áp dụng khoản 3 Điều 29 của Bộ luật hình sự năm 2015 để miễn trách nhiệm hình sự. Do vậy cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo; sửa bản án sơ thẩm, áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội, dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình, không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ.
[4] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo; sửa bản án sơ thẩm; Xử:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đại B phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
Áp dụng khoản 1 Điều 202 của Bộ luật hình sự năm 1999; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đại B 06 tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Đại B cho Ủy ban nhân dân xã LT, huyện BL, tỉnh Lâm Đồng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì việc Thi hành án thực hiện theo qui định tại khoản 1 điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKS tỉnh Lâm Đồng; - Phòng KTNV&THA; - TA huyện Bảo Lâm; - VKS huyện Bảo Lâm; - Cơ quan điều tra CA huyện Bảo Lâm; - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - Chi cục THADS Bảo Lâm; - Bị cáo (để thi hành); - Hồ sơ THAHS; - Lưu hồ sơ; Án văn. | TM. H Đ NG ÉT Ử PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Kim Đồng |