vanban.org

Bản án 61/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M đƣợc ly hôn với anh Mạc Hồng S.

Về con chung: Buộc anh Mạc Hồng S giao con chung cháu Mạc Thị Minh U, sinh ngày 19/4/2009 cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Buộc chị Nguyễn Thị M giao con chung tên Mạc Hồng V, sinh ngày 18/3/2012 cho anh Mạc Hồng S trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị M khởi kiện anh Mạc Hồng S"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M đƣợc ly hôn với anh Mạc Hồng S.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 61/2018/HNGĐ-ST
Ngày 25-5-2018
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.

2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quyết – Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Ngân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25/5/2018 tại Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 172/2018/TLST-HNGĐ ngày 01/3/2018 về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 63/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/4/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2018/QĐST-HNGĐ giữa các đƣơng sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1987;

Thƣờng trú: Thôn M, xã N, huyện C, tỉnh H.

Tạm trú: 216/1, khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B.

Bị đơn: Anh Mạc Hồng S, sinh năm 1978;

Thƣờng trú: Thôn T, xã C, huyện K, tỉnh H.

Tạm trú: 216/1, khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B.

Chị Nguyễn Thị M có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, anh Mạc Hồng S vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 09/02/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M và anh Mạc Hồng S tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện K, tỉnh H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 32, quyển số 01/2008 ngày 18/9/2008. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị sống tại phƣờng L, thị xã M, tỉnh Q nhƣng do anh S đam mê chơi cờ bạc dẫn đến nợ nần, vì vậy đến tháng 11/2008 vợ chồng anh chị đã chuyển vào sống tại số 216/1 khu phố T, phƣờng T, tỉnh B cho đến nay. Thời gian đầu, vợ chồng sống với nhau hạnh phúc nhƣng từ năm 2012 anh S quay lại đam mê cờ bạc, tiếp tục vay mƣợn tiền của nhiều ngƣời dẫn đến nợ nần, chị M phải đứng ra vay mƣợn tiền để trả nợ thay cho anh S nhiều lần nhƣng anh S vẫn không từ bỏ việc đam mê cờ bạc. Từ việc đam mê cờ bạc mà từ năm 2012 đến nay vợ chồng thƣờng xảy ra nhiều cãi vả dẫn đến anh S thƣờng xuyên đánh đập, hành hung chị M. Vì thƣơng các con nên chị M cố nhịn và mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị vẫn không thể hòa giải đƣợc.

Chị M xác định tình cảm vợ chồng không còn nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn với anh S.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị M khai vợ chồng có hai con chung: Mạc Thị Minh U, sinh ngày 19/4/2009 và Mạc Hồng V, sinh ngày 18/3/2012. Chị Nguyễn Thị M yêu cầu đƣợc nuôi dƣỡng cháu Mạc Thị Minh U, đồng ý giao cho anh Mạc Hồng S trực tiếp nuôi dƣỡng cháu Mạc Hồng V. Sau khi ly hôn không ai phải cấp dƣỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Mạc Hồng S đã đƣợc Toà án thông báo tham gia tố tụng, tống đạt các văn bản tố tụng nhƣng anh S không đến Toà án làm việc, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố nào, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn không chấp hành theo quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định. Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về điều kiện thụ lý vụ án: Căn cứ vào đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị M thì đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn có đăng ký tạm trú tại địa chỉ số 216/1, khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh B nhƣng đã bán nhà chuyển đi nơi khác không thông báo cho cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền theo quy định của pháp luật cƣ trú nhằm che dấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với ngƣời khởi kiện là chị Nguyễn Thị M nên Tòa án nhân dân thị xã D thụ lý giải quyết theo quy định tại Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 và Điểm e Khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về sự vắng mặt của các đƣơng sự: Ngày 24/5/2018, nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào các ngày 09/5/2018 và ngày 25/5/2018 nhƣng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M và anh Mạc Hồng S tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện K, tỉnh H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 32, quyển số 01/2008 ngày 18/9/2008 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.

Chị M cho rằng từ năm 2008 anh S bắt đầu đam mê cờ bạc, vay tiền của nhiều ngƣời để đánh bạc dẫn đến nợ nần, chị M phải đứng ra vay tiền nhiều nơi để giải quyết trả nợ thay cho anh S nhiều lần nhƣng anh S vẫn không từ bỏ việc đam mê cờ bạc. Từ năm 2012, vợ chồng thƣờng xuyên tranh cãi, anh S thƣờng xuyên đánh đập, hành hung chị M. Do chị thƣơng các con nên cố nhịn và mong muốn hàn gắn hòa giải mâu thuẫn trong thời gian dài nhƣng mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị vẫn không cải thiện. Hiện nay anh S đã đƣa 01 con (cháu Mạc Hồng V) về quê và không cùng sống chung với chị M tại địa chỉ đã đăng ký tạm trú.

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án và nhiều lần triệu tập anh S đến tham gia phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng anh S không có mặt. Điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng của anh S đối với chị M đã thực sự không còn và cả hai bên đều không muốn hàn gắn.

Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt đƣợc mục đích đó, vợ chồng phải chung thủy, thƣơng yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt.

Việc anh S bỏ mặc không quan tâm đến hòa giải đoàn tụ để hàn gắn quan hệ hôn nhân với chị M cho thấy tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị M và anh S đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu đƣợc ly hôn của chị M.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên Mạc Thị Minh U, sinh ngày 19/4/2009 và Mạc Hồng V, sinh ngày 18/3/2012. Chị M yêu cầu đƣợc nuôi dƣỡng cháu Mạc Thị Minh U đồng ý giao con chung Mạc Hồng V cho anh S trực tiếp nuôi dƣỡng, không ai phải cấp dƣỡng nuôi con. Xét thấy theo trình bày của chị M tại bản tự khai ngày 03/3/2018 thì hiện nay cháu Mạc Thị Minh U đang sống chung với chị M và cháu Mạc Hồng V đang sống chung với anh S và cũng không nhận đƣợc ý kiến phản ánh của chị M về việc anh S không đảm bảo tốt về mọi mặt trong việc chăm sóc các con chung. Tại bản tự khai ngày 13/3/2018, cháu Mạc Thị Minh U có nguyện vọng đƣợc sống với mẹ. Do đó, chị M yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung là cháu Mạc Thị Minh U và đồng ý giao cho anh S tiếp tục nuôi dƣỡng cháu Mạc Hồng V là phù hợp với các Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị M không yêu cầu cấp dƣỡng nuôi con, xét đây là ý chí tự nguyện của chị M nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, tỉnh B.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị M phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M đƣợc ly hôn với anh Mạc Hồng S.

2. Về con chung: Buộc anh Mạc Hồng S giao con chung cháu Mạc Thị Minh U, sinh ngày 19/4/2009 cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng.

Buộc chị Nguyễn Thị M giao con chung tên Mạc Hồng V, sinh ngày 18/3/2012 cho anh Mạc Hồng S trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng.

Chị Nguyễn Thị M và anh Mạc Hồng S không ai có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.

Sau ly hôn, anh Mạc Hồng S và chị Nguyễn Thị M đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Trƣờng hợp anh, chị lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hƣởng xấu đến việc anh, chị nuôi con thì anh, chị có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0018932, ngày 27/2/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Chị Nguyễn Thị M đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Án xử công khai, tuyên án vắng mặt các đƣơng sự.

6. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ