- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Vinh H - mua bán ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Vinh H, Trần Thị Cẩm T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 61/2017/HS-ST. Ngày: 18-11-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cẩm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hồ Văn Khang;
2. Ông Trần Sĩ Thịnh.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như -Thư ký Toà án nhân
dân huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng tham gia phiên
toà: Ông Lê Văn Nghiêm – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2017, tại Trường Tiểu học Phước Chỉ, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bàng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2017/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2017; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2017/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2017 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Vinh H, sinh ngày 03/4/1992, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp Aq, xã AH, huyện TB, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1971 và bà Đặng Ngọc D, sinh năm 1969; có vợ là Nguyễn Thị Thanh V, sinh năm 1992 và 01 người con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giữ từ ngày 14/8/2017, tạm giam ngày 17/8/2017 đến nay. Có mặt.
2. Trần Thị Cẩm T, sinh năm 1992, tại tỉnh Long An; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Ấp AH, xã ANT, huyện ĐH, tỉnh Long An; nơi cư trú: Ấp AK, xã AT, huyện TB, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Tiếp viên karaôkê; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; con Trần Văn L, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1955; có chồng là Nguyễn Hoàng M, sinh năm 1987 (đã ly hôn), có 01 người con sinh năm 2010; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 13/4/2016, bị Công an huyện Trảng Bàng xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị bắt tạm giữ ngày 14/8/2017, tạm giam ngày 17/8/2017 đến nay. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị Thanh V, sinh năm 1992; nơi cư trú: Ấp Hòa Bình, xã An Hòa, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 14 giờ 20 phút ngày 14/8/2017, tại khu vực phía trước nhà trọ của Huỳnh Trung Nhân thuộc ấp An Khương, xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; Công an huyện Trảng Bàng bắt quả tang Trần Thị Cẩm T đang bán trái phép 01 bịch chất ma túy cho Nguyễn Thanh Ph, sinh năm 1988, với giá 500.000 đồng; thu giữ 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín bên trong có chứa tinh thể trong suốt.
Đến 18 giờ 05 phút cùng ngày, Công an huyện Trảng Bàng tiến hành bắt khẩn cấp Nguyễn Vinh H tại phòng số 05 nhà trọ của Huỳnh Trung N; thu giữ 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín và 01 bịch nylon trong suốt có một đầu hở, bên trong mỗi bịch nylon đều chứa tinh thể trong suốt.
Qua điều tra, thể hiện: Vào ngày 12/8/2017, Nguyễn Vinh H điều kH xe môtô biển số 70L1-250.33 đi đến khu vực ấp An Khương, xã An Tịnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, mua 03 bịch chất ma túy của người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) với giá 500.000 đồng. Sau đó, H đem về phòng trọ lấy 01 ít chất ma túy để sử dụng cùng T và Huỳnh Thị Thanh Th (bạn gái của H). Đến khoảng 13 giờ 30 phút ngày 14/8/2017, Nguyễn Thanh Ph gọi điện thoại cho T hỏi mua 01 bịch chất ma túy với giá 500.000 đồng thì T đồng ý bán và hẹn giao chất ma túy tại phía trước nhà trọ. Sau đó, T đi đến phòng trọ số 05 gặp H nói việc Ph hỏi mua chất ma túy, H kêu T lấy 01 bịch chất ma túy tại bàn bằng gỗ trong phòng đem bán cho Ph, trong lúc T bán ma túy cho Ph thì bị bắt quả tang.
Ngoài ra, H và T đều khai nhận: Từ ngày 07/8/2017 đến ngày bị bắt, để có tiền tiêu xài và có ma túy sử dụng, H đi mua chất ma túy đem về sử dụng và bán ma túy cho người khác, H rủ T cùng tham gia bán chất ma túy và cho T chất ma túy để sử dụng. Ngoài lần bị bắt quả tang, H và T còn bán trái phép chất ma túy cho Ph và Lê Văn P, sinh năm 1990, được 04 lần (trong đó, P đi mua chất ma túy cùng Ph được 02 lần), mỗi lần 01 bịch với giá từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu.
Tang vật thu giữ:
- Thu của bị cáo T: Số tiền 500.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đỏ - đen, loại RM – 1035, số IMEI 1: 356458/06/725300/5, số IMEI 2: 356458/06/725301/3; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Thị Cẩm T.
- Thu giữ của Nguyễn Thanh Ph: 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín bên trong có chứa tinh thể trong suốt, bên ngoài bịch nylon được dán băng keo màu đen được niêm phong.
- Thu giữ của bị cáo H: 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín và 01 bịch nylon trong suốt có một đầu hở bên trong mỗi bịch nylon đều có chứa tinh thể trong suốt được niêm phong; 02 cái kéo bằng kim loại màu trắng; 01 bật lửa màu xanh; 01 bịch nylon trong suốt có viền màu đỏ, bên trong rỗng; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng có một đầu hở, một đầu kín; 02 đoạn ống hút nhựa trong suốt; 01 cuộn băng keo màu đen; 01 bình thủy tinh trong suốt có 01 đầu được gắn ống hút nhựa trong suốt và 01 đầu dạng phễu; 01 xe mô tô loại Wave, màu xanh – đen, biển số: 70L1-250.33, số máy: NF110ME0000123, số khung: NF110M0000123; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy biển số: 70L1-250.33; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, màu đen, số IMEI: 355374087043295, sim số: 01669321711; tiền Việt Nam: 700.000 đồng.
Tại Kết luận giám định số 160/MT-2017 ngày 15/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận:
- Tinh thể trong suốt bên trong 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín (thu giữ của Nguyễn Thanh Ph) là chất ma túy, tên gọi Methamphetamine, trọng lượng 0,1596 gam.
- Tinh thể trong suốt bên trong 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín và 01 bịch nylon trong suốt có một đầu hở (thu giữ của Nguyễn Vinh H) là chất ma túy, tên gọi Methamphetamine, trọng lượng 0,1706 gam
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Nguyễn Thị Thanh V khai nhận: Chị là vợ của bị cáo H. Một điện thoại di động hiệu Iphone 7, màu đen, là của chị đưa cho bị cáo H mượn vì điện thoại của bị cáo H bị hư. Nay chị yêu cầu nhận lại điện thoại này.
Cáo trạng số 60/QĐ-KSĐT ngày 05 tháng 10 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng đã truy tố các bị cáo Nguyễn Vinh H, Trần Thị Cẩm T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm o, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Vinh H từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm o, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt Trần Thị Cẩm T từ 07 năm đến 08 năm tù
Do các bị cáo không có tài sản đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Đề nghị áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý vật chứng đã thu giữ theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi của các bị cáo nên mong Hội đồng xét xử xử nhẹ cho các bị cáo để các bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của các bị cáo thể hiện: Do cần tiền tiêu xài và có ma túy để sử dụng nên bị cáo H bàn với bị cáo T mua ma túy về phân nhỏ để bán lại cho những đối tượng nghiện thì bị cáo T đồng ý. Từ ngày 07/8/2017 đến ngày 14/8/2017, bị cáo Nguyễn Vinh H cùng bị cáo Trần Thị Cẩm T có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Thanh Ph, Lê Văn P được 05 lần. Cụ thể:
- Lần thứ nhất vào ngày 07 - 8 - 2017, bán cho Ph và P 01 bịch ma túy với giá 300.000 đồng;
- Lần thứ hai vào ngày 08- 8-2017, bán cho Ph 01 bịch ma túy giá 300.000 đồng;
- Lần thứ ba vào ngày 10-8-2017 bán cho Ph và P 01 bịch ma túy với giá 500.000 đồng;
- Lần thứ tư vào ngày 10-8-2017 bán cho Ph 01 bịch ma túy với giá 300.000 đồng;
- Lần thứ năm vào ngày 14-8-2017 bán cho Ph 01 bịch ma túy với giá 500.000 đồng thì bị bắt quả tang.
Căn cứ Kết luận giám định số 160/MT-2017 ngày 15/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận:
- Tinh thể trong suốt bên trong 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín (thu giữ của Nguyễn Thanh Ph) là chất ma túy, tên gọi Methamphetamine, trọng lượng 0,1596 gam.
- Tinh thể trong suốt bên trong 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín và 01 bịch nylon trong suốt có một đầu hở (thu giữ của Nguyễn Vinh H) là chất ma túy, tên gọi Methamphetamine, trọng lượng 0,1706 gam.
Xét hành vi của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, phù hợp với những chứng cứ của vụ án được thẩm tra tại phiên toà, phù hợp với lời trình bày của những người tham gia tố tụng.
Do đó, đủ căn cứ kết luận các bị cáo H, T phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Xuất phát từ mục đích tư lợi cá nhân, các bị cáo đã bất chấp pháp luật làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây nỗi hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân.
Cụ thể, các bị cáo biết việc sử dụng trái phép chất ma túy gây nguy hại cho sức khỏe con người, nhưng các bị cáo vẫn cố ý mua chất ma túy bán cho những đối tượng nghiện ma túy sử dụng nhằm mục đích thu lợi bất chính đồng thời các bị cáo còn tiếp tay cho những đối tượng nghiện ma túy đi vào con đường tệ nạn xã hội. Vì vậy, cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để có tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét vai trò của từng bị cáo: Đối với bị cáo H là người chủ mưu trực tiếp mua ma túy về để giao bị cáo T bán cho người nghiện sử dụng nhằm thu lợi nên bị cáo phải chịu trách nhiệm chính và cao hơn bị cáo T. Bị cáo T biết việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì cần ma túy sử dụng không phải tốn tiền nên bị cáo cùng bị cáo H nhiều lần bán ma túy; do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của bị cáo.
Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ngoài lần phạm tội quả tang, các bị cáo còn tự khai những lần phạm tội khác. Do đó, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại điểm o, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo T có bà ngoại được phong là Bà mẹ Việt Nam anh hùng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
Xét các bị cáo không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Đối với Nguyễn Vinh H, Trần Thị Cẩm T, Nguyễn Thanh Ph, Lê Văn P, Huỳnh Thị Thu Th có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Công an huyện Trảng Bàng đã ra quyết định xử phạt hành vi phạm hành chính.
Riêng người đàn ông tên “Tiến” bán ma túy cho bị cáo H, hiện không rõ họ và địa chỉ nên chưa làm việc được, Cơ quan điều tra đang tiếp tục làm rõ để xử lý sau.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với một bì thư được niêm phong vụ số 160/1 có chữ ký của Giám định viên và trợ lý giám định, sau giám định bên trong còn lại 0,1330 gam chất ma túy, tên gọi Methamphetamine; một bì thư được niêm phong vụ số 160/2 có chữ ký của Giám định viên và trợ lý giám định, sau giám định bên trong còn lại 0,1419 gam chất ma túy, tên gọi Methamphetamine, là chất Nhà nước cấm lưu hành, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền 500.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đỏ
- đen, loại RM – 1035, số IMEI 1: 356458/06/725300/5, số IMEI 2: 356458/06/725301/3, sim số 0121938335 thu của bị cáo T. Bị cáo T thừa nhận số tiền 500.000 đồng có được do bán ma túy mà có nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước; bị cáo T dùng điện thoại liên lạc để bán ma túy, xét thấy còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- Đối với 02 cái kéo bằng kim loại màu trắng; 01 bật lửa màu xanh; 01 bịch nylon trong suốt có viền màu đỏ, bên trong rỗng; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng có một đầu hở, một đầu kín; 02 đoạn ống hút nhựa trong suốt; 01 cuộn băng keo màu đen; 01 bình thủy tinh trong suốt có 01 đầu được gắn ống hút nhựa trong suốt và 01 đầu dạng phễu là dùng cụ để phân và sử dụng ma túy không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 xe mô tô loại Wave, màu xanh – đen, biển số: 70L1- 250.33, số máy: NF110ME0000123, số khung: NF110M0000123; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy biển số: 70L1-250.33 là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, màu đen, số IMEI: 355374087043295, sim số: 01669321711 của chị V (vợ bị cáo H), xét thấy không liên quan nên trả lại chị V
- Đối với tiền Việt Nam 700.000 đồng thu của bị cáo H, có được do bán ma túy nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Trả lại bị cáo T 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Thị Cẩm T.
Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Vinh H, Trần Thị Cẩm T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm o, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Vinh H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 14/8/2017.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm o, p khoản 1, 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Thị Cẩm T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 14/8/2017.
Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tuyên tịch thu tiêu hủy:
- Một bì thư được niêm phong vụ số 160/1 có chữ ký của Giám định viên và trợ lý giám định, sau giám định bên trong còn lại 0,1330 gam chất ma túy, tên gọi Methamphetamine; một bì thư được niêm phong vụ số 160/2 có chữ ký của Giám định viên và trợ lý giám định, sau giám định bên trong còn lại 0,1419 gam chất ma túy, tên gọi Methamphetamine; 02 cái kéo bằng kim loại màu trắng; 01 bật lửa màu xanh; 01 bịch nylon trong suốt có viền màu đỏ, bên trong rỗng; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng có một đầu hở, một đầu kín; 02 đoạn ống hút nhựa trong suốt; 01 cuộn băng keo màu đen; 01 bình thủy tinh trong suốt có 01 đầu được gắn ống hút nhựa trong suốt và 01 đầu dạng phễu.
Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước: Số tiền 1.200.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đỏ - đen, loại RM – 1035, số IMEI 1: 356458/06/725300/5, số IMEI 2: 356458/06/725301/3, sim số 0121938335; 01 xe mô tô loại Wave, màu xanh – đen, biển số: 70L1- 250.33, số máy: NF110ME0000123, số khung: NF110M0000123; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy biển số: 70L1-250.33.
Tuyên trả lại bị cáo T 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Thị Cẩm T.
Tuyên trả lại chị Nguyễn Thị Thanh V 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, màu đen, số IMEI: 355374087043295, sim số: 01669321711.
3. Án phí: Áp dụng Điều 98 và 99 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho các bị cáo, chị V biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Trảng Bàng; -Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; -Chi cục THADS huyện Trảng Bàng; -Cơ quan thi hành án hình sự; -Công an cấp xã nơi bị cáo cư trú; -Bị cáo; người TGTT khác; -Lưu hồ sơ; -Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Cẩm |