vanban.org

Bản án 609/2022/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 26/08/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/08/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phan Hoàng P.

Giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số: 14/2022/HS-ST ngày 15/4/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng. Tuyên bố: Bị cáo Phan Hoàng P phạm tội “Tham ô tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phan Hoàng Phước - phạm tội tham ô tài sản (điều 353 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phan Hoàng P.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 353 Bộ luật Hình sự; Điều 345 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 609/2022/HS-PT
Ngày 26/8/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khương

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tửu và bà Đinh Ngọc Thu Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Đảm - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 301/2022/TLPT-HS ngày 23 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo Phan Hoàng P, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án Hình sự sơ thẩm số 14/2022/HS-ST ngày 15/4/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Bị cáo có kháng cáo:

Phan Hoàng P, sinh năm 1981; Nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp Hòa Long, xã An Ninh, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Thủ kho; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con Phan Hoàng C (đã chết) và bà Lê Ngọc Q (đã chết); Bị cáo có vợ là: Trần Lệ L, sinh năm 1983; Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2011; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05-02-2021 cho đến nay (Có mặt).

- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Phan Hoàng P: Luật sư Nguyễn Hùng V - Đoàn Luật sư tỉnh Sóc Trăng (Có mặt).

Trong vụ án này còn có một số người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty Cổ phần thương nghiệp Cà Mau là Công ty cổ phần được chuyển đổi từ DNNN (gọi tắt Công ty), có trụ sở chính đặt tại số 70-72, Đề Thám, Phường 2, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, do bà Nguyễn Thị Việt A làm Tổng giám đốc. Công ty có tư cách pháp nhân. Kinh doanh xăng, dầu; hàng công nghệ thực phẩm; hóa mỹ phẩm các loại, xà phòng các loại, chất tẩy rửa các loại.

Cửa hàng phân phối hàng tiêu dùng Sóc Trăng (gọi tắt là Cửa hàng), hoạt động theo ủy quyền của Chi nhánh Công ty tại Sóc Trăng, được Phòng Đăng ký kinh doanh, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận địa điểm đăng ký kinh doanh, mã số 00001, cấp ngày 29-05-2019; đặt tại số 484, đường 30/4 Khóm 1, Phường 3, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

Công ty ra Quyết định số 640/2018/QĐ-TGĐ ngày 12-11-2018 phân công ông Trần Quốc Liệt giữ chức vụ Cửa hàng Phó là người đứng đầu, quản lý và Quyết định số 50/2018/QĐ-TGĐ ngày 01-3-2018 tuyển dụng và phân công Phan Hoàng P chức danh Nhân viên thủ kho tại Cửa hàng. Nhiệm vụ chính của Phước là làm thủ kho, giữ chìa khóa, theo dõi, quản lý, bảo quản hàng nhập vào kho theo hóa đơn và xuất hàng ra khỏi kho theo hóa đơn bán cho đại lý, khách hàng và chịu trách nhiệm số hàng hóa quản lý trong kho.

Để kiểm soát hàng hóa, Công ty quy định ít nhất trong 06 tháng tổ chức kiểm kho một lần để đối chiếu hàng tồn kho với số liệu trên sổ sách kế toán. Cụ thể: Ngày 30-11-2019, Công ty lập biên bản kiểm kho theo định k tại Cửa hàng, trong đó lập biên bản xác định số lượng tất cả các loại hàng tồn kho. Đến ngày 21-6-2020, Công ty tổ chức kiểm kho theo lịch được thông báo nhưng Phước lánh mặt. Sau khi được Cửa hàng và gia đình động viên, thì Phước phối hợp với Công ty bắt đầu kiểm kho từ ngày 22-6-2020. Đến ngày 25-6-2020 lập biên bản kết thúc kiểm kho, qua đó xác định số lượng từng loại hàng tồn kho.

Trên cơ sở đối chiếu số liệu theo biên bản kiểm kho thực tế lập ngày 25-6-2020, đối chiếu tổng số lượng hàng tồn đến ngày 30-11-2019; tổng số lượng hàng nhập vào từ ngày 30-11-2019 đến ngày kiểm kho ngày 22-6-2020; tổng số lượng hàng xuất kho từ ngày 30-11-2019 đến ngày kiểm kho ngày 22-6-2020; tổng số lượng hàng còn tồn thực tế đến ngày kiểm kho ngày 22-6-2020 tại Cửa hàng, thì Công ty phát hiện thiếu hụt 32 loại hàng hóa mua của Công ty TNHH Quốc tế Unilever Việt Nam trị giá thành tiền 979.434.073 đồng. Cụ thể:

1. Lifeboy dầu gội tóc dày óng ả; Mã sản phẩm: 21112986; Thành tiền: 100,411,200 đồng;

2. Sunsilk Dầu gội mềm mượt diệu k ; Mã sản phẩm: 2008713; Thành tiền: 28,292,976 đồng;

3. Sunsilk Dầu xã mềm mượt diệu k ; Mã sản phẩm: 32008740; Thành tiền: 6,582,816 đồng;

4. Sunsilk Dầu xã óng mượt rạng ngời; Mã sản phẩm: 32008749; Thành tiền: 10,284,624 đồng;

5. Sunsilk Dầu gội óng mượt rạng ngời; Mã sản phẩm: 32008812; Thành tiền: 169,306,416 đồng;

6. Dove Dầu gội phục hồi hư tổn; Mã sản phẩm: 32008873; Thành tiền: 65,918,448 đồng;

7. Clear Dầu gội mát lạnh Bạc Hà; Mã sản phẩm: 67426052; Thành tiền: 196,043,976 đồng;

8. Comfort đậm đặc 1 lần xả hương gió xuân; Mã sản phẩm: 67614138; Thành tiền: 13,441,350 đồng;

9. Comfort đậm đặc 1 lần xả hương ban mai; Mã sản phẩm: 67614178; Thành tiền: 71,496,230 đồng;

10. Comfort đậm đặc cho da nhạy cảm; Mã sản phẩm: 67717651; Thành tiền: 22,637,290 đồng;

11. Sunlight Nước lau sàn tinh dầu hương hoa Diên vỹ; Mã sản phẩm: 67756025; Thành tiền: 12,119,130 đồng;

12. Sunsilk dầu xã óng mượt rạng ngời; Mã sản phẩm: 67895299; Thành tiền: 34,810,128 đồng;

13. Lifebuoy dầu gội tóc dày óng ả; Mã sản phẩm: 67907581; Thành tiền: 8,396,784 đồng;

14. Sunsilk Dầu gội óng mượt rạng ngời; Mã sản phẩm: 67933149; Thành tiền: 9,516,200 đồng;

15. Kem đánh răng P/S ngừa sâu răng vượt trội; Mã sản phẩm: 67951476; Thành tiền: 95,523,546 đồng;

16. CLEAR dầu gội mát lạnh bạc hà; Mã sản phẩm: 68178742; Thành tiền: 8,772,300 đồng;

17. Kem đánh răng P/S ngừa sâu răng vượt trội; Mã sản phẩm: 68199866; Thành tiền: 55,057,304 đồng;

18. Dove Kem xả phục hồi hư tổn; Mã sản phẩm: 68207721; Thành tiền: 14,441,976 đồng;

19. Lifeboy Dầu gội tóc mềm mượt; Mã sản phẩm: 21112984; Thành tiền: 12,756,600 đồng;

20. Comfor đậm đặc hương ban mai một lần xã; Mã sản phẩm: 67614130; Thành tiền: 10,012,625 đồng;

21. Clear men dầu gội mát lạnh bạc hà; Mã sản phẩm: 67709579; Thành tiền: 4,493,880 đồng;

22. Lifeboy Sữa tắm chăm sóc da; Mã sản phẩm: 67837463; Thành tiền: 3,866,310 đồng;

23. Clear dầu gội mát lạnh bạc hà; Mã sản phẩm: 67841240; Thành tiền: 3,755,152 đồng;

24. Dove Dầu gội phục hồi hư tổn; Mã sản phẩm: 67853515; Thành tiền: 2,770,160 đồng;

25. Surf bột giặt ngát hương xuân; Mã sản phẩm: 68181662; Thành tiền: 3,709,557 đồng;

26. Surf bột giặt ngát hương xuân; Mã sản phẩm: 68237758; Thành tiền: 4,918,826 đồng;

27. Ponds Kem chống lão hóa ban ngày; Mã sản phẩm: 68345722; Thành tiền: 2,618,352 đồng;

28. Hazeline Sữa tắm dưỡng sáng yến mạch dâu tằm; Mã sản phẩm: 68277812; Thành tiền: 1,539,000 đồng;

29. Dove Dầu gội dưỡng óng mềm tự nhiên (hồng); Mã sản phẩm: 67904627; Thành tiền: 3,097,225 đồng;

30. Dove Dầu xã phục hồi hư tổn; Mã sản phẩm: 67853512; Thành tiền: 1,532,832 đồng;

31. Dove Dầu gội phục hồi hư tổn; Mã sản phẩm: 67497334; Thành tiền: 1,015,740 đồng;

32. Ponds Kem trắng hồng rạng rõ ban ngày; Mã sản phẩm: 67044825; Thành tiền: 295,120 đồng;

Tổng cộng: 32 loại hàng hóa thiếu hụt, với tổng số tiền: 979.434.073 đồng (chưa tính thuế VAT 10%). (BL Số: 860-861;862-865; 863-880; 881-893)

Theo Kết luận định giá tài sản số 4248/KL-HĐĐG ngày 21-10-2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng, kết luận: 32 loại hàng hóa thất thoát với số lượng thống kê như trên trị giá thành tiền bằng 1.403.368.000 đồng (BL Số: 179- 181)

Qua làm việc với Công ty Cổ phần thương nghiệp Cà Mau, các lời khai ban đầu tại Cơ quan điều tra, Phước đều thừa nhận Phước chiếm đoạt 31/32 loại hàng hóa trên, bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Riêng tên hàng 67756025- Sunlight Nước lau sàn tinh dầu hương hoa Diên Vỹ thì Phước không chiếm đoạt. Tuy nhiên, sau khi khởi tố bị can thì Phước thay đổi lời khai, chỉ thừa nhận chiếm đoạt 22/31 loại hàng. Trong đó, Phước không thừa nhận chiếm đoạt các loại hàng sau:

1. 67756025- Sunlight Nước lau sàn tinh dầu hương hoa Diên Vỹ;

2. 67614130- Comfor đậm đặc hương ban mai một lần xã;

3. 67841240- Clear dầu gội mát lạnh bạc hà;

4. 68181662- Surf bột giặt ngát hương xuân;

5. 68237758- Surf bột giặt ngát hương xuân;

6. 68345722- Ponds Kem chống lão hóa ban ngày;

7. 68277812-Hazeline Sữa tắm dưỡng sáng yến mạch dâu tằm;

8. 67904627-Dove Dầu gội dưỡng óng mềm tự nhiên (hồng);

9. 67853512-Dove Dầu xã phục hồi hư tổn;

10. 67044825-Ponds Kem trắng hồng rạng rỡ ban ngày.

Phước cho rằng 10 loại hàng hóa trên thiếu hụt là do có thể trong lúc quản lý không cẩn thận dẫn đến thất lạc chứ Phước không có chiếm đoạt.

Do Phước làm thủ kho nên Phước quen biết với khách hàng và có được số điện thoại của anh Trần Vũ K chủ cửa hàng An Nhi ở chợ Bông Sen, Phường 6, thành phố Sóc Trăng và anh Mai Hoàng A chủ cửa hàng Hoàng A, tại khu đô thị 5A, Phường 4, thành phố Sóc Trăng. Trong khoảng thời gian từ tháng 01-2020 đến trước ngày kiểm kho khoảng 15 ngày, Phước lợi dụng Công ty chưa phát hiện việc các nhân viên bán hàng “chẻ hóa đơn” và “ghi chú” trên gói hàng thông tin, địa chỉ để giao hàng, thủ kho có thể cho khách hàng nhận hàng trước khi có hóa đơn nên Phước đã chiếm đoạt hàng hóa trong kho để bán cho cửa hàng An Nhi hoặc cửa hàng Hoàng A lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Để chiếm đoạt được tài sản của Công ty, Phước dùng số 0916.088.010 của Phước gọi vào số điện thoại di động của anh Hoàng A số 0936.421.954 và của anh Khiêm số 0944.461.976 giới thiệu là nhân viên của Cửa hàng chào bán hàng với chiếc khấu từ 19% đến 20%. Khi anh Khiêm hoặc anh Hoàng A đồng ý mua hàng, Phước vào kho soạn hàng sẵn rồi để cùng với các hàng hóa khác đã có hóa đơn chuẩn bị đi giao cho khách hàng. Sau đó, Phước yêu cầu anh Nguyễn Văn H và Trần Thanh L là nhân viên giao hàng mang số hàng này giao hoặc có khi Phước viết hóa đơn tay kèm theo số hàng này và ghi nơi nhận hàng là cửa hàng An Nhi hoặc cửa hàng Hoàng A để các nhân viên này giao hàng. Sau đó, Phước trực tiếp đến cửa hàng An Nhi gặp anh Khiêm nhận tiền. Còn cửa hàng Hoàng A thì trả trực tiếp cho người giao hàng, rồi giao lại cho Phước, ngoài ra, Phước cũng đến Cửa hàng Hoàng A nhận tiền anh Hoàng A trả một lần. Với cách thức này, Phước đã nhiều lần chiếm đoạt hàng trong kho bán cho anh Trần Vũ K được khoảng 30 lần, bán cho anh Mai Hoàng A được khoảng 05 lần. Trị giá hàng mỗi lần bán ít nhất khoảng 10.000.000 đồng, nhiều nhất khoảng 50.000.000 đồng, số tiền Phước bán hàng cho anh Trần Vũ K được khoảng 800.000.000 đồng, bán cho anh Mai Hoàng A đươc khoảng 200.000.000 đồng. Số tiền này Phước dùng vào việc đánh bạc đá gà và đã thua hết.

Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 14/2022/HS-ST ngày 15/4/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã quyết định:

Căn cứ vào điểm a khoản 4, khoản 5 và khoản 6 Điều 353; điểm b, s, r khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Phan Hoàng P phạm tội “Tham ô tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phan Hoàng P 15 (mười lăm) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05-02-2021.

Hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Phan Hoàng P giữ chức vụ thủ kho trong thời gian 03 (ba) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

Ngày 28/4/2022, bị cáo Phan Hoàng P có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và giữ nguyên kháng cáo.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị xem xét giá trị hàng hóa bị chiếm đoạt, theo biên bản kiểm kho có giá trị là 979.434.073 đồng, nhưng theo kết quả định giá thì giá trị hàng hóa thất thoát là 1.403.368.000 đồng nên theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử lấy trị giá 979.434.073 đồng đề xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Bị cáo lấy 22 loại hàng hóa Theo Kết luận định giá của cơ quan có thẩm quyền có trị giá 1.318.020.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm a khoản 4, khoản 5 và khoản 6 Điều 353 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Phan Hoàng P 15 năm tù là đã dưới khung hình phạt, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

* Về tố tụng:

Điều 62 của Bộ luật tố tụng hình sự quy định: “Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản …”. Như vậy trong vụ án này bị cáo chiếm đoạt tài sản của Công ty cổ phần thương nghiệp Cà Mau, do đó Công ty cổ phần thương nghiệp Cà Mau là bị hại chứ không phải nguyên đơn dân sự như Tòa án cấp sơ thẩm xác định.

Tuy nhiên, việc xác định sai tư cách tố tụng của bị hại nêu trên không làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty cổ phần thương nghiệp Cà Mau, nên không cần thiết phải hủy án sơ thẩm mà chỉ điều chỉnh lại cho phù hợp và nêu ra để Tòa án cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm.

* Về nội dung:

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Phan Hoàng P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã khai nhận: Bị cáo là người được Công ty phân công làm nhiệm vụ thủ kho, trực tiếp quản lý hàng hóa. Khoảng thời gian từ tháng 01-2020 đến trước ngày 22-6-2020, bị cáo đã nhiều lần lấy 22 loại hàng hóa ra bán cho anh Trần Vũ K và anh Mai Hoàng A lấy tiền, nhưng bị cáo cho rằng trị giá của 22 mặt hàng theo người bị hại yêu cầu bồi thường là 979.434.073 đồng chứ không phải trị giá 1.318.020.000 đồng như Kết luận định giá tài sản.

Xét lời khai thừa nhận tội của bị cáo Phan Hoàng P là phù hợp với lời khai của bị hại, của người liên quan, Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ để kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” điểm a khoản 4 Điều 353 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo chiếm đoạt tài sản có giá trị trên 1.000.000.000 đồng, đây là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 353 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), có khung hình phạt từ 20 năm, chung thân hoặc tử hình. Tòa án sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự khai ra những lần phạm tội trước; bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 450.000.000 đồng; có nhân thân tốt, theo điểm b, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và áp dụng dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho bị cáo hưởng mức hình phạt 15 năm tù là dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, là đã rất khoan hồng cho bị cáo, không nặng. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ vì cho rằng số tiền bị cáo chiếm đoạt chỉ có 979.434.073 đồng, là không phù hợp với Kết luận định giá tài sản số 4248/KL-HĐĐG ngày 21-10-2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Sóc Trăng, nên kháng cáo xin giảm nhẹ của bị cáo không được chấp nhận.

Quan điểm của Luật sư đề nghị xem xét giá trị hàng hóa bị chiếm đoạt, theo biên bản kiểm kho có giá trị là 979.434.073 đồng, nhưng theo kết quả định giá thì giá trị hàng hóa thất thoát là 1.403.368.000 đồng, nên Luật sư đề nghị áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo thì áp dụng trị giá tài sản bị tham ô là 979.434.073 đồng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, là không có căn cứ. Bởi lẽ Biên bản kiểm kho của người bị hại chỉ kiểm đếm về số lượng hàng hóa cụ thể bị mất là 22 mặt hàng còn khi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là căn cứ vào kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định 22 mặt hàng theo giá thị trường tại thời điểm bị cáo chiếm đoạt là 1.318.020.000đồng.

Quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ chấp nhận.

Án phí hình sự phúc thẩm, bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 345 và điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015;

1. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phan Hoàng P.

2. Giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số: 14/2022/HS-ST ngày 15/4/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

3. Tuyên bố: Bị cáo Phan Hoàng P phạm tội “Tham ô tài sản”.

4. Áp dụng điểm a khoản 4, khoản 5 và khoản 6 Điều 353; điểm b, s, r khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

5. Xử phạt bị cáo Phan Hoàng P 15 (mười lăm) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05-02-2021.

6. Hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Phan Hoàng P giữ chức vụ thủ kho trong thời gian 03 (ba) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt.

7. Án phí hình sự phúc thẩm, bị cáo Phan Hoàng P phải chịu 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng).

8. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ