vanban.org

Bản án 608/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Hà Thúy D.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hà Thúy D được quyền ly hôn với ông Phạm Minh P. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Hà Thúy D.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 608/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 22/7/2020
V/v: “Tranh chấp về ly hôn”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hương.

- Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Phước Trinh;

2. Bà Phạm Thị Ngọc.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đào Văn Tiền, Kiểm sát viên

Trong ngày 22 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 229/2020/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2020 về việc: “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 164/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 145/2020/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hà Thúy D, sinh năm 1989 (có mặt).

Hộ khẩu thường trú: Số 48 đường số 437, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Phạm Minh P, sinh năm 1988 (vắng mặt).

Hộ khẩu thường trú: Số 30A đường 443, ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo Đơn xin ly hôn ngày 19/02/2020 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Hà Thúy D trình bày sự việc như sau:

Bà (Hà Thúy D) và ông Phạm Minh P sau khi tìm hiểu được khoảng 03 tháng thì tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn, Giấy chứng

- 1 -

nhận kết hôn số 140 ngày 20/9/2016 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp.

Sau khi kết hôn, vì nhà cha mẹ hai bên gần nhau nên bà vẫn sống bên nhà cha mẹ ruột, chồng thì thường qua lại giữa hai bên. Vợ chồng bà sống hạnh phúc được khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn do không hợp tính tình, không cùng chung quan điểm sống; chồng bà đi hợp tác lao động tại nước Nhật từ năm 2017, kinh tế không rõ ràng, thời gian đầu chồng bà còn liên lạc về nhưng sau đó thì không liên lạc nữa; vợ chồng bà sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay.

Việc bà xin ly hôn, ông P biết và cũng đồng ý ly hôn nhưng không chịu đến Tòa án.

Vì tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên bà xin được ly hôn với ông P.

Về con chung: Vợ chồng bà chưa có con chung.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nghĩa vụ dân sự chung: Không có.

- Trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Phạm Minh P vắng mặt nên không có lời khai của ông P.

- Đại diện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cũng như Hội đồng xét xử sơ thẩm và Thư ký tại phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Hà Thúy D.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hà Thúy D được quyền ly hôn ông Phạm Minh P.

Về cong chung: Không có.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- 2 -

Về nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Đây là vụ kiện: “Tranh chấp về ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn trong vụ kiện ông Phạm Minh P hiện có địa chỉ tại huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại phiên tòa, không có mặt bị đơn ông Phạm Minh P mà không rõ lý do nên căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông P.

Về nội dung:

Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Hà Thúy D về việc yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Phạm Minh P, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về quan hệ hôn nhân:

Bà Hà Thúy D và ông Phạm Minh P kết hôn năm 2016, có đăng ký kết hôn năm 2016, Giấy chứng nhận kết hôn số 140 ngày 20/9/2016 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện C cấp, nên là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật thừa nhận.

Tại phiên tòa, bà D cho rằng sau khi kết hôn, vì nhà cha mẹ hai bên gần nhau nên bà vẫn sống bên nhà cha mẹ ruột, chồng thì thường xuyên qua lại giữa hai bên. Vợ chồng bà sống hạnh phúc được khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp tính tình, không cùng chung quan điểm sống; chồng đi hợp tác lao động tại nước Nhật từ năm 2017, kinh tế không rõ ràng, thời gian đầu chồng bà còn liên lạc về nhưng sau thì không liên lạc nữa; vợ chồng bà sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Vì tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nữa nên bà xin được ly hôn với ông P.

Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ sống chung với nhau, thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, tạo dựng hạnh phúc gia đình, nhưng cuộc sống vợ chồng giữa bà D và ông P có nhiều mâu thuẫu, sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Tại phiên tòa, bà D cương quyết xin ly hôn với ông P vì không còn tình cảm vợ chồng, không thể hàn gắn được nữa. Mặt khác, tại phiên tòa hôm nay, ông P cũng không có mặt mà không có lý do, điều này thể hiện ông P không có thiện chí trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà D.

- 3 -

Từ phân tích trên, có đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa bà D và ông P không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu bà D là có cơ sở.

- Về con chung:

Bà D khai chưa có con chung nên Hội đồng xét xử không xét.

- Tài sản chung:

Bà D khai về tài sản chung do hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

- Về nghĩa vụ dân sự chung:

Bà D khai không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.

Bà D phải nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/10/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ Điều 6, 7, 26, 30, 31, 32 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Hà Thúy D.

- Về quan hệ hôn nhân:

Bà Hà Thúy D được quyền ly hôn với ông Phạm Minh P.

Giấy chứng nhận kết hôn số 140 ngày 20/9/2016 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện C cấp cho bà Hà Thúy D và ông Phạm Minh P không còn giá trị pháp lý.

- Về con chung:

Bà Hà Thúy D khai không có con chung.

- Về tài sản chung:

Bà Hà Thúy D khai về tài sản chung do hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nghĩa vụ dân sự chung:

- 4 -

Bà Hà Thúy D khai không có nghĩa vụ dân sự chung.

2. Về án phí:

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm buộc bà D phải nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0083547 ngày 27/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, bà D đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa (ông Phạm Minh P) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

Cỡ chữ