- Tranh chấp gì? án hành chính — "Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn T ; Người bị kiện: 1. Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu"
- Căn cứ chính? Điều 106 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 605 /2019/HC-PT Ngày 29 tháng 8 năm 2019 V/v: Kiện việc cấp giấy chứng nhận QSD đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Huynh
Các Thẩm phán: Ông Phan Đức Phương
Bà Trần Thị Hoà Hiệp
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Duy Minh- Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễ n Văn Phượ ng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 29 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 164/2019/TLPT-HC ngày 14 tháng 2 năm 201 về việc “Kiện việc cấp giấy chứng nhận QSD đất”.
Do Bản án hành chính phúc thẩm số 85/2018/HC-PT ngày 22 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 709/2019/QĐ - PT ngày 17 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn T , sinh năm 1950.
Địa chỉ: đường 30/4, phường Rạch Dừa, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Mạnh T1, sinh năm 1977
Địa chỉ: đường Hoàng Văn Thụ, Phường 7, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (có mặt). Theo giấy ủy quyền xác lập ngày 27/8/2018.
Người bị kiện:
1. Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T2- Chủ tịch
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Phan Văn M - Phó giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh bà Rịa- Vũng Tàu.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Hà Thị Thu D, sinh năm 1964.
Địa chỉ: đường 30/4, phường Rạch Dừa, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Mạnh T1 sinh năm 1977
2. Bà Hoàng Thị C , sinh năm: 1955.(có mặt)
Địa chỉ: đường 30/4 phường Rạch Dừa, Tp. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
3. Ông Trầ n Khắ c H , sinh năm 1967 và bà Hoà ng Thị D 1, sinh năm 1969. (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: đường 30/4 phường Rạch Dừa, Tp. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
4. Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng dầu khí I .
Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Thanh T3- Giám đốc. (vắng mặt)
Đị a chỉ : Nguyễn An Ninh, phường 7, TP.Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
5. Ông Hà Huy H1, sinh năm 1970. (vắng mặt)
Địa chỉ: đường 30/4 phường Rạch Dừa, Tp. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
6. Bà Lê Thị Thúy T4, sinh năm 1943. (vắng mặt)
Địa chỉ: đường 30/4 phường Rạch Dừa, Tp. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người khởi kiện - ông Nguyễn Văn T trình bày:
Năm 1989, công ty Xây dự ng dầ u khí , nay là Công ty cổ phầ n đầ u tư xây dự ng dầ u khí I (sau đây viế t tắ t là Công ty I ) bán hóa giá nhà cho công nhân viên tại khu tập thể của Công ty trong hẻm đườ ng 30/4, phườ ng 10 (nay là phườ ng Rạch Dừa), TP. Vũng Tàu. Vợ chồ ng ông T , bà Hà D đượ c mua hó a giá c ăn hộ thuộ c lô số 7C (lô số 7 thuộ c dã y nhà C- dãy nhà này là căn nhà ăn cũ của Công ty I chuyể n đổi thà nh dã y nhà tậ p thể ). Khi hó a giá nhà thì hó a giá cả phầ n đấ t khuôn viên nhà . Gia đì nh ông T , bà Hà D đã nộ p đủ tiề n nhà cho công ty là 1.000.000đ, còn tiền đất nộp cho kho bạc nhà nước là 684.500đ. Đế n năm 1992 thì công ty mớ i là m giấ y tờ hóa giá nhà gồm: 01 giấ y chủ quyề n nhà , 01 giấ y bà n giao đấ t và 01 bản vẽ xin chủ quyền nhà giao cho gia đì nh ông, công ty không bà n giao đấ t trên thự c đị a mà chỉ giao trên giấ y tờ , biên bả n bà n giao đấ t cho nhà ông T không ghi lố i đi. Nhà đất của ông T , bà Hà D hiệ n nay thuộ c thử a số 04, phườ ng Rạch Dừa. Ông Thặ ng, bà Hà Dung đã có giấ y chứ ng nhậ n quyề n sở hữ u nhà đấ t cấ p năm 1992, đấ t chưa có giấ y chứ ng nhậ n QSD đấ t.
Bà C cũng được hóa giá căn tập thể số 24B (nhà số 24 thuộ c dã y B ) trướ c mặ t nhà ông T cùng thời gian với nhà ông T . Khi đó trướ c mặ t nhà ông T có lối đi kí ch thướ c chiề u ngang rộ ng khoả ng 2,5m- 3m, dài khoảng 12,1m chạ y giữ a tườ ng nhà ăn cũ củ a Công ty vớ i hông nhà bà C . Nhà ông T , bà Hà D sử dụ ng lố i đi nà y.
Năm 1990, vợ chồ ng ông H , bà Hoàng D1 là em bà C xây nhà phía sau . Trướ c khi ông H xây nhà thì gia đì nh ông T sử dụ ng lố i đi là phầ n đấ t sân nhà ăn cũ của công ty I và lối đi hiện hữu. Sau khi ông H xây nhà thì gia đì nh ông T vẫ n sử dụ ng lố i đi là sân nhà ăn của công ty và phần lố i đi hiệ n hữ u.
Năm 1992 khi công ty Xây dự ng dầ u khí lậ p bả n vẽ họ a đồ xin chủ quyề n
nhà và giao cho gia đình ông thì ông T mớ i biế t ông H xây nhà có lấ n lố i đi nộ i bộ . Đế n năm 1994 khi ông K xây nhà , xây cả trên phầ n sân nhà ăn cũ , nên lố i đi chỉ còn rộng khoảng 0,9m. Nên năm 2009 ông T , bà Hà D kiệ n vợ chồ ng ông H , bà Hoàng D1 và vợ chồng ông K , bà H2.
Trong quá trì nh giả i quyế t vụ á n ông T , bà Hà D đã rú t yêu cầ u khở i kiệ n đố i vớ i ông K , bà H2, nên Tò a á n đã đì nh chỉ giả i quyế t vụ á n đố i vớ i yêu cầ u khở i kiệ n nà y củ a ông T , bà Hà D .
Năm 1998, bà C làm sổ đỏ do UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu cấ p diệ n tí ch là 92m2. Khi bà C làm sổ đỏ thì gia đì nh ông T không biế t. Việ c UBND Tỉ nh cấ p giấ y chứ ng nhậ n QSD đấ t cho bà C là không đúng, diệ n tí ch 27m2 dư là diệ n tí ch lố i đi nộ i bộ trong khu tậ p thể giữ a dã y nhà B và dã y nhà C (nhà ăn cũ của công ty). Bà C đã kê khai đăng ký và xin cấ p giấ y cả phầ n đườ ng đi và cho ông H làm nhà trên phần đất này.
Sau khi Tòa án thụ lý vụ án hành chính cũng như tại phiên tòa, ông T , bà Hà D xác định yêu cầu khởi kiện là hủy giấy chứng nhận QSD đất đã cấp cho bà C về phần diện tích thuộc lối đi chung.
Người bị kiện - Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu trình bày:
Diệ n tí ch 92m2 thuộ c thử a số 81 phườ ng 10 cũ là nhà đất của Công ty xây dự ng dầ u khí quả n lý , sử dụ ng trướ c năm 1989. Ngày 05/10/1989 Công ty có quyế t đị nh số 42/VP-CT hó a giá căn hộ cho bà Hoà ng Thị C . Theo hồ sơ mua nhà của bà C thì bà C mua củ a công ty xây dự ng dầ u khí nhà trên diệ n tí ch đấ t là 65,17m2, phầ n diệ n tí ch 27m2 còn lại bà C hợ p thứ c hó a thêm và nhà nướ c đã truy thu tiề n sử dụ ng đấ t , việ c hợ p thứ c hó a và o năm 1997. Diệ n tí ch đấ t cá c bên đang tranh chấ p nằ m trong diệ n tí ch 27m2 bà C đượ c hợ p thứ c hó a . Ủy ban nhân dân tỉnh cấp giấy chứng nhậ n QSD đấ t cho bà C thử a số 81, phườ ng 10, diệ n tí ch 92m2 căn cứ và o: Hiệ n trạ ng sử dụ ng đấ t do UBND phườ ng 10 có văn bản đề nghị kèm theo tờ trình số 36 ngày 16/9/1997, Bản đồ địa chính năm 1994, kế t quả xé t của Hội đồ ng xé t cấ p giấ y chứ ng nhậ n QSD đấ t phườ ng 10 ngày 04/9/1997, tờ trình số 148/T.Tr.UB ngà y 17/2/1998 của UBND thành phố Vũng Tàu, tờ trì nh số 421/TT-ĐC ngà y 01/4/1997 của Sở Địa chính về việc đề nghị UBND tỉnh cấp giấy chứ ng nhậ n QSD đấ t cho 26 hộ gia đì nh, cá nhân đang sử dụng đất tại phường 10. Việ c UBND tỉ nh cấ p giấ y chứ ng nhậ n QSD đấ t cho cho bà C 92m2 trong đó có 27m2 do hợ p thứ c hó a là đú ng trì nh tự quy đị nh, đú ng phá p luậ t.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Hoàng Thị D1, ông Trần Khắc H trình bày:
Về nguồn gốc đất ông T đang tranh chấp tạ i đường 30/4 phường Rạch Dừa, Tp. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là của bà C (chị bà Hoàng D1) đượ c công ty I bán hóa giá năm 1989. Bà C đượ c hó a giá căn nhà tậ p thể 24B và phầ n đấ t trố ng liề n kề đầ u hồ i nhà . Sau khi mua hó a giá thì năm 1990 bà C cho vợ chồ ng ông H phầ n đấ t trố ng đầ u hồ i nhà 24B và vợ chồ ng ông H làm nhà cấp 4 trên đấ t từ năm 1990 để gia đình ở , năm 2000 có sửa lại nhà: Nâng nề n và là m thêm gá c lử ng như hiệ n nay . Từ khi ông H xây nhà năm 1990 đến năm 2009 thì không ai tranh chấ p gì , năm 2009 thì ông T , bà Hà D mớ i tranh chấ p.
Trướ c năm 1990 và từ năm 1990, khi vợ chồ ng ông H xây nhà thì gia đì nh ông T vẫ n sử dụ ng phầ n đấ t trố ng giữ a bờ tườ ng nhà ăn cũ củ a công ty ID
vớ i tườ ng nhà ông H có chiều rộng khoảng 2,9m là m lố i đi , sau nà y ông K xây nhà nên lố i đi chỉ cò n rộ ng khoảng 01m.
Năm 1998 thì bà C đượ c cấ p giấ y chứ ng nhậ n QSD đấ t diệ n tí ch là 92m2 trong đó có cả đấ t ông H xây nhà . Hiệ n tạ i đấ t nhà ông H vẫ n đứ ng tên bà C , chưa sang tên vợ chồ ng ông H nhưng bà C đã cho vợ chồ ng ông phầ n đấ t nà y, nhà ông H chưa có chủ quyề n nhà .
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Hoàng Thị C trình bày:
Bà C là công nhân công ty xây dựng dầu khí . Năm 1985 bà được công ty cho về ở căn nhà tậ p thể lô 24 thuộ c dã y B (24B) nay là nhà đường 30/4 phường Rạch Dừa, Tp. Vũng Tàu. Năm 1989 công ty hó a giá căn nhà nà y và đấ t c ho bà . Do nhà bà ở đầ u dã y B khu tậ p thể có phầ n đấ t trố ng đầ u hồ i nên công ty hó a giá cả phần đất này cho bà và bà phải nộp thêm cho công ty là 500.000đ nhiề u hơn so vớ i cá c hộ khá c, cụ thể bà nộp cho công ty 3 lầ n tiề n, tổ ng cộ ng là 1.500.000đ, có biên lai thu tiề n củ a công ty xây dự ng dầ u khí . Số tiề n nộ p thêm tạ i phiế u thu số 46 ngày 19/9/1989 là tiền đấ t cho phầ n đấ t trố ng đầ u hồ i nhưng không hiể u tạ i sao khi xuấ t phiế u công ty lạ i ghi là nộp tiền nhà. Gia đì nh ông T , bà Hà D cũng được hóa giá nhưng chỉ phải nộp cho công ty là 1.000.000đ. Sau nà y năm 1993 bà C đã nộ p 325.850đ tiền đất cho nhà nước tại kho bạc nhà nước với diện tích là 65,17m2 đấ t theo thông bá o củ a công ty , đây là diệ n tí ch bà đượ c công ty I hóa giá. Bà C đượ c cấ p giấ y chứ ng nhậ n QSH nhà năm 1993. Phầ n diệ n tí ch đấ t trố ng bà mua của công ty có chiều ngang là 2,5m tí nh từ tườ ng hông nhà bà, sơ đồ xin cấ p chủ quyề n nhà củ a bà do công ty xây dự ng dầ u khí lậ p thể hiệ n phầ n đấ t nà y
2,5m ngang. Ngay khi đượ c hó a giá nhà đấ t năm 1989 bà đã rào lại diện tích đất hiện là nhà ông H .
Năm 1990, bà cho em bà là ông H , bà Hoàng D1 phầ n diệ n tí ch đấ t trố ng đầ u hồ i và vợ chồng ông H đã là m nhà ở từ năm 1990 đến nay. Diệ n tí ch nhà ông H hiệ n tạ i có mộ t phầ n là do Công ty I bán cho bà , mộ t phầ n 27m2 do bà đượ c nhà nước hợp thức hóa vào năm 1998 và bà đã được cấp giấy chứng nhận QSD đấ t 92m2 năm 1998. Phầ n diệ n tí ch 27m2 này bà C đã kê khai đăng ký từ năm 1994 vớ i UBND phườ ng 10 cũ.
Hiệ n nay bà C chưa sang tên đấ t cho vợ chồ ng ông H , bà Hoàng D1.
Từ trướ c khi ông H xây nhà và sau khi ông H xây nhà năm 1990 thì gia đình ông T vẫ n đi trên lố i đi là phầ n đấ t trố ng giá p bờ tườ ng nhà ăn cũ củ a công ty I và phầ n lố i đi hiệ n hữ u giá p tườ ng nhà ông H , phầ n đấ t trố ng nà y khi đó rộ ng khoảng 3m, sau nà y năm 2008 ông K làm nhà làm ra cả phần đất trống trước cửa nhà ăn cũ của công ty nên lối đi chỉ còn lại như hiện nay . Chưa khi nà o gia đì nh ông T đi trên phầ n đấ t hiệ n là nhà của ông H , bà Hoàng D1.
Bà xác định phần đất nhà ông (trong đó có phầ n đấ t ông T đang tranh chấ p) là bà đã cho ông H , bà Hoàng D1.
Công ty I : Trướ c đây công ty I có tên là Công ty xây dự ng dầ u khí . Công ty I có hóa giá cho cán bộ công nhân tại khu tập thể của công ty tại phường 10 (cũ) trong đó có hộ bà C , hộ bà Hà Thị Thu D . Theo Quyế t đị nh hó a giá nhà số 42 ngày 05/10/1989 thì diện tích nhà công ty hóa giá cho bà C là 24m2 nhà, theo họa đồ xin cấp chủ quyền nhà có xác nhận của công ty thì diện tích nhà hóa giá cho bà C là 32,89m2 và diện tích khuôn viên nhà là 45,22m2. Khi hó a giá nhà thì công ty chỉ thu tiề n nhà , không thu tiề n đấ t, tiề n đấ t cá c hộ dân phả i tự đi nộ p cho nhà nước tại kho bạc nhà nước . Công ty không bá n cho bà C phầ n đấ t ngang 2,5m dà i 13,3m cạ nh nhà 24B củ a bà C theo bả n sơ đồ mặ t bằ ng nhà số 24 dãy B khu tậ p thể công ty do bà C nộ p, công ty chỉ bá n hó a giá phầ n nhà cho bà C theo bản vẽ có kích thước : Ngang 3,4m, dài 9,7m. Trong 3 phiế u thu tiề n củ a công ty do bà C nộ p vớ i tổng số tiền là 1.500.000đ thì đề u có nộ i dung là thu tiề n nhà . Do bão năm 2006 nên hiệ n tạ i công ty I không cò n lưu trữ bấ t cứ tà i liệ u nà o về việ c bán hóa giá nhà tại khu tập thể của công ty ở phường 10, trong đó có hộ bà C . Công ty không xá c đị nh đượ c phầ n đấ t đang tranh chấ p trướ c kia là đườ ng đi trong khu tậ p thể hay là phầ n đấ t trố ng . Phiế u thu tiề n thuế đấ t hà ng năm từ năm 1994 đến năm 1997 đều thể hiện diện tích đất bà C là 65,1m2. Công ty không biế t tạ i sao bà C lại được cấp giấy chứng nhận QSD đất diện tích 92m2.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 85/2018/HC-PT ngày 22 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 106 Luật đất đai năm 2013.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T .
Hủy giấy chứng nhận vào sổ cấp giấy chứng nhận QSD đất số 00309/QSDĐ/809-QĐT ngày 09/4/1998 của UBND tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu cấp cho bà Hoàng Thị C , để cấp lại theo đúng diện tích đất được hóa giá, và xác lập lối đi chung theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 17/12/2018, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị C kháng cáo tòa bộ nội dung bản án.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bà Hoàng Thị C trình bày: Cấp giấy chứng nhận thì tất cả là đo địa chính hướng dẫn cho tôi. Đề nghị chấp nhận kháng cáo của tôi. Yêu cầu giữ nguyên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ông Nguyễn Văn T trình bày: Yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận. Bà C khai là bà ở năm 1985. Hóa giá năm 1989. Có tất cả các giấy tờ. Bà C chỉ mua có 32,89m2. Khi cấp giấy không có tứ cận. Không có việc mua bán sang nhượng, cho tặng gì thêm. Đơn đề nghị để đi đăng ký là ghi hóa giá năm 1989.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện các thủ tục tố tụng, thu thập đầy đủ các chứng cứ và xét xử đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà C , giữ y án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và kết quả tranh tụng của các đương sự, của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm.
Về tố tụng:
Đơn kháng cáo, nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã được đương sự thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên toà phúc thẩm có một số đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự này đã có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt hoặc đã có văn bản uỷ quyền cho người khác có mặt tham gia phiên toà, hoặc đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về thời hiệu khởi kiện: Năm 2009 ông T , bà Hà D khởi kiện vụ án dân sự “tranh chấp lối đi” đang do hộ ông Trần Khắc H sử dụng làm nhà ở trên đất. Quá trình giải quyết vụ án, ông T xác định không biết bà C đã được cấp giấy chứng nhận diện tích đất này. Tòa án giải quyết “tranh chấp lối đi” đồng thời xem xét quyết định cá biệt là giấy chứng nhận QSD đất cấp cho bà C theo Điều 32 a Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004.
Vụ án được xét xử theo thủ tục sơ thẩm và phúc thẩm.
Ngày 16/7/2014, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu thụ lý lại vụ án số 28/2014/TB-TLVA về việc “tranh chấp lối đi”, theo Bản án dân sự phúc thẩm số 140/2014/DS-PT ngày 09/6/2014 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại TP Hồ Chí Minh do đã hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại.
Ngày 11/5/2018,ông T , bà Hà D rút đơn khởi kiện vụ án dân sự “tranh chấp lối đi” đã thụ lý số 28/2014/TB-TLVA nêu trên. Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu ra quyết định số 09/2018/QĐ-ST ngày 18/5/2018 về việc đình chỉ giải quyết vụ án.
Ngày 14/6/2018 ông T có đơn khởi kiện vụ án hành chính yêu cầu hủy giấy chứng nhận QSD đất của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu cấp cho bà C , vì cho rằng có một phần lối đi chung bị bà C lấn chiếm. Như vậy, Toà án cấp sơ thẩ m căn cứ và o khoả n 2 Điề u 3, khoản 1 Điề u 115, điể m a khoả n 2 Điề u 116 Luậ t tố tụ ng hà nh chí nh thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung:
Xét kháng cáo của bà Hoàng Thị C :
Diện tích đất 92m2, thuộc thửa 81, toạ lạc tại phường 10, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là một phần đất do Nhà nước giao cho Công ty Xây dựng Dầu khí Vũng Tàu, nay là Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng Dầu khí I sử dụng trước năm 1989. Ngày 05/10/1989 Công ty Xây dựng Dầu khí Vũng Tàu ban hành quyết định số 42/VP-CT hoá giá căn hộ cho bà C . Khi thực hiện hoá giá căn nhà vào năm 1989, hồ sơ hoá giá từng căn hộ tập thể đều thể hiện không có lối đi, nhưng theo Hoạ đồ mặt bằng vị trí khu đất tập thể thì các dãy nhà đều có lối đi, trong đó dãy C lúc đó là nhà ăn phía trước có đường đi 2 bên tiếp giáp khu A và khu B là bằng nhau. Tuy nhiên, hiện nay lối đi của dãy C tiếp giáp với khu B nhỏ hơn so với lối đi trước đây, do hộ bà C đã xây dựng nhà và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đầu hồi của căn nhà của bà C được hoá giá.
Bà C cho rằng diện tích đất mà ông T cho là lối đi chung thuộ c quyề n sử dụng hợp pháp củ a bà C , vì gia đình bà C đã đượ c hoá giá và đã xây dựng nhà từ năm 1990, sau đó có sử a chữ a lạ i và xây dự ng thêm phí a trướ c như hiệ n nay. Toàn bộ khu đất này này bà C đã đượ c cấ p giấ y chứ ng nhậ n quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà từ năm 1998. Trong quá trì nh sử dụ ng không ai tranh chấ p.
Tuy nhiên , bà C thừ a nhậ n diệ n tí ch nhà h oá giá là 32,9m2, Công ty Xây dựng Dầu khí Vũng Tàu bàn giao với diện tích nhà, đấ t 65,17m2, phù hợp với phiế u bà n giao khuôn viên đấ t , phù hộ với xác nhận của Công ty Xây dựng Dầu khí Vũng Tàu, cũng như ông T 5 (chánh VP trực tiếp t hự c hiệ n việ c bá n nhà củ a Công ty) với nội dung là Công ty Xây dựng Dầu khí Vũng Tàu không bá n đắ t , không thu tiề n sử dụ ng đấ t đố i vớ i phầ n đấ t đã ra so vớ i diệ n tí ch đấ t công ty giao cho bà C .
Như vậ y, mặ c dù diệ n tí ch đấ t ông T xác định là lối đi chung hiện nay do hộ bà C , ông H sử dụ ng. Nhưng phầ n đấ t nà y kh ông thuộ c diệ n tí ch đấ t bà C đượ c hoá giá năm 1989, mà là phần đất thuộc lối đi nội bộ của khu tập thể của Công ty Xây dựng Dầu khí Vũng Tàu. Về phía Công ty Xây dựng Dầu khí Vũng Tàu, nay là Công ty CP Đầ u tư xây dự ng dầ u khí I là đơn vị hoá giá cũng xác định chỉ hoá giá nhà gắn liền với khuôn viên đất có trên nhà , không có hoá giá diệ n tí ch đấ t là lố i đi. Thực tế hiện nay chỉ còn một phần của lối đi chung, nhưng chiế u ngang lố i đi này rấ t hẹ p chỉ khoảng 0.9m, ngoài lối đi này các hộ phía sau không có lố i đi nào khác.
Từ đó có đủ căn cứ xá c đị nh diệ n tí ch đấ t ông T cho rằng bà C lấn chiếm tuy bà C đã đượ c cấ p giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t , nhưng đây là một phần của lối đi chung trước đây, không đủ căn cứ xá c đị nh phầ n đấ t nà y có nguồ n gố c do bà C khai phá , nhậ n chuyể n nhượ ng hoặc đã đượ c hoá giá .
Xét trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà C đối với phần đất lấn chiếm lối đi: Năm 1998 bà C đượ c Uỷ ban nhân dân tỉ nh Bà Rị a – Vũng Tàu hợp thức hoá, cấ p quyề n sử dụ ng đấ t. Tuy nhiên, các chứng cứ thể hiện quá trình cấ p giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t có nhiề u sai phạ m đã đượ c thừ a nhậ n như: không xá c minh thự c tế diện tích đất xin cấp giấy chứng nhận, không có các hộ giáp ranh ký , đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất ghi nguồ n gố c đượ c ho á giá toàn bộ diện tích đất năm 1989, đơn đề ghị cấ p giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụng đất không phả i bà C ký, mà do bà Tô Thị T 6 ký thay nhưng không có uỷ quyề n, diệ n tí ch đấ t nằ m ngoà i diệ n tí ch đượ c hoá giá , nhưng khi cấ p giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t, cũng không thu tiền sử dụng đất. Tại phiên toà phúc thẩm ngày 09/06/2014, bà C cũng thừa nhận phầ n diệ n tí ch đấ t dư ra nêu trên là đất công, do Nhà nướ c quả n lý .
Tại phiên toà phúc th ẩm hôm nay bà C trình bày khi cấp giấy chứng nhận quyề n sư dụ ng đấ t cho bà C thì không đo đạ c, chỉ cấp theo kê khai của bà C .
Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét các chứng cứ, xét xử chấp nhận xét xử yêu cầ u của ông T là có căn cứ . Tuy nhiên, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà C là 92m2, trong đó chỉ có một phần bà C lấn chiếm lối đi, phần diện tích còn lại thì bà C đã được hoá giá. Như vậy, chỉ có phần diện tích đất bà C lấn chiếm lối đi là trái với quy định của pháp luật, nhưng Toà án cấp sơ thẩm lại huỷ toàn bộ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà C là chưa đúng . Do đó , Hộ i đồ ng xé t xử sử a mộ t phầ n bả n á n sơ thẩ m , chỉ huỷ một phần giấy chứng nhận quyề n sử dụ ng đấ t của bà C đối với diện tích lấn chiếm lối đi chung là 25,2m2 giới hạn bởi các mốc 1,2 ,3,4,5,6,7 theo Bản đồ địa chính thửa khu đất đo đạc ngày 19/11/2014 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường.
Về án phí hành chính phúc thẩm: Bà C được miễn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾ T ĐỊ NH
Căn cứ khoản 2 Điề u 241 luậ t tố tụ ng hà nh chí nh.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 106 Luật đất đai năm 2013.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần kháng cá o củ a bà Hoàng Thị C , Sửa một phần bản án sơ thẩ m.
1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T .
1.2. Huỷ một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận QSD đất số 00309/QSDĐ/809-QĐT ngày 09/4/1998 do Uỷ ban nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu cấp cho bà Hoàng Thị C đối với diện tích lấn chiếm lối đi chung là 25,2m2, giới hạn bởi các mốc 1,2 ,3,4,5,6,7 theo Bản đồ địa chính thửa khu đất đo đạc ngày 19/11/2014 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường.
1.3. Bà Hoàng Thị C có trách nhiệm đến cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục kê khai đăng ký quyền sử dụng đất lại cho phù hợp với quyết định của bản án.
2. Về án phí hành chính phúc thẩm: Bà Hoàng Thị C được miễn.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao (1); - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh (1); - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (1); - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (1); - Cục THADS tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (1); - Đương sự (10); - Lưu VP (3), HS (1), DM (14). Các Thẩm phán Phạm Trung Tuấn Huỳnh Thanh Duyên | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Ngọc Huynh Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Ngọc Huynh |