vanban.org

Bản án 602/2026/LHST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H về việc "Ly hôn".

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn L. Về con chung: Chị Lê Thị H và anh Nguyễn Văn L có 02 con chung là: Cháu Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị H - Nguyễn Văn L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H về việc "Ly hôn".
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11- HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 602/2026/LHST
Ngày: 22/06/2026
Về việc: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có: Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Kim Liên Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hành

Bà Nguyễn Thị Thắm Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Đặng Thị Thanh Huyền – Cán bộ Toà án Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Hà Nội: Bà Phạm Thúy Hằng– Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 06 năm 2026, tại Trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 11 – Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 356/2026/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2026 về việc tranh chấp “ Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 227/2026/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 215/2026/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 06 năm 2026 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh ngày 07/01/1991; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục Trưởng Cục Cảnh Sát QLHC về T1XH cấp ngày 01/5/2021.

Nơi thường trú: P, xã T, thành phố Hà Nội.

Nơi ở hiện nay: Thôn C, xã T, thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên toà.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh ngày 20/4/1984; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Bộ Công an cấp ngày 10/8/2024.

HKT1 và nơi ở: P, xã T, thành phố Hà Nội.

Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 21/03/2026 và bản tự khai ngày 20/4/2026 nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày: Chị và anh L tự do tìm hiểu, lấy nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới. Đến ngày 02/02/2018 đi đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã P, huyện T1, thành phố Hà Nội. Sau khi cưới vợ chồng chị H và anh L sống hạnh phúc đến cuối năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống không hợp nhau về mọi mặt trong cuộc sống. Tháng 01/2026 mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng, đã sống ly thân mỗi người một nơi không ai quan tâm đến ai. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, xin được ly hôn với anh L.

Về con chung: Theo như chị Lê Thị H khai, chị và anh L có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị H1, sinh ngày 03/9/2018; cháu Nguyễn Bình M, sinh ngày 16/8/2022. Ly hôn chị H có nguyện vọng là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục hai con chung cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật và không yêu cầu anh L đóng góp tiền nuôi con chung. Vì hiện nay chị H kinh doanh bán hàng chăn ga gối có thu nhập khoảng 30.000.000đồng/ tháng, có đủ điều kiện nuôi hai con chung.

Về tài sản và nhà ở: Chị H và anh L không có, không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.

Về công nợ chung: Chị H và anh L không nợ ai và không ai nợ anh chị, không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết. Về việc tham gia tố tụng: Hiện nay anh Nguyễn Văn L đang ăn ở sinh sống thường xuyên tại P, xã T, thành phố Hà Nội. Nhưng Toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh L nhưng anh L vẫn không đến Toà án để giải quyết về việc xin ly hôn của chị Lê Thị H. Do vậy Toà án nhân dân Khu vực 11 – Hà Nội tiến hành các thủ tục theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà hôm nay:

Về tình cảm: Chị Lê Thị H vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn L vì chị H và anh L đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2026 đến nay, do mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng, trầm trọng. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị H xin được ly hôn với anh L

Về con chung: Anh L và chị H có 02 con chung là: Cháu Nguyễn Thị H1, sinh ngày 03/9/2018; cháu Nguyễn Bình M, sinh ngày 16/8/2022. Nay ly hôn chị H có nguyện vọng là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cả 02 con chung là cháu Nguyễn Thị H1 và cháu Nguyễn Bình M cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật, không yêu cầu anh L cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản và nhà ở: Chị H và anh L không có, không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.

Về công nợ chung: Chị H và anh L không nợ ai và không ai nợ anh chị, không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11 – Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Xét thấy yêu cầu của chị H là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Đề nghị hội đồng xét xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H xin ly hôn anh Nguyễn Văn L.

Về tình cảm: Chị Lê Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn L.

Về con chung: Anh L và chị H có 02 con chung là: Cháu Nguyễn Thị H1, sinh ngày 03/9/2018; cháu Nguyễn Bình M, sinh ngày 16/8/2022. Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Thị H1; cháu Nguyễn Bình M cho chị Lê Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm hoãn việc đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Văn L.

Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật tại Điều 271, 272 Bộ luật tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định: Chị Lê Thị H và anh Nguyễn Văn L kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 02/02/2018, tại Uỷ ban nhân dân xã P, huyện T1, thành phố Hà Nội. Như vậy hôn nhân của chị H và anh L là hợp pháp, tiến bộ. Sau khi kết hôn vợ, chồng chị H và anh L đã sống tại P, xã T, thành phố Hà Nội. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn kéo dài do bất đồng quan điểm sống không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn diễn ra ngày càng trầm trọng, đã sống ly thân từ đầu năm 2026. Nay chị H làm đơn xin ly hôn với anh L. Tại phiên toà hôm nay chị H vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn với anh L. Xét thấy tình trạng hôn nhân của chị H và anh L không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị H là có cơ sở chấp nhận. Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị H được ly hôn với anh L. Bị đơn anh Nguyễn Văn L đã được tống đạt niêm yết công khai hợp lệ các văn bản tố tụng gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo phiên hòa giải, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập phiên tòa để anh L biết những vấn đề cụ thể mà chị H xin ly hôn anh L. Đồng thời triệu tập anh L đến tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn. Tuy nhiên anh L không có mặt theo giấy triệu tập của tòa án để làm bản tự khai, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị H, không cung cấp giao nộp tài liệu, chứng cứ, không chứng minh để tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, không đưa ra yêu cầu phản tố, không tham gia phiên họp, phiên hòa giải, tham dự phiên tòa. Do đó anh L không thực hiện nghĩa vụ của đương sự nên phải chịu hậu quả do bộ luật tố tụng dân sự quy định. Tòa án căn cứ vào các tài liệu chứng cứ mà chị H giao nộp và tòa án thu thập được theo quy định tại Điều 97 của bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết vụ án.

Về con chung: Chị H và anh L có 02 con chung là: Cháu Nguyễn Thị H1, sinh ngày 03/9/2018; cháu Nguyễn Bình M, sinh ngày 16/8/2022. Xét nguyện vọng của chị H là mong muốn là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi cả 02 con chung là cháu Nguyễn Thị H1, cháu Nguyễn Bình M cho đến khi 02 con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung chị H không yêu cầu anh L cấp dưỡng nữa nên Hội đồng xét xử không xem xét. Xét điều kiện nuôi con của chị Lê Thị H, Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay cháu Nguyễn Thị H1, cháu Nguyễn Bình M đều đang ở với mẹ cháu là Lê Thị H, do đó việc các con chung được sống bên cạnh mẹ là để đảm bảo cho tinh thần, thể chất của hai con chung. Bên cạnh đó Toà án nhân dân Khu vực 11 – Hà Nội đã triệu tập anh L đến Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội để tiến hành các thủ tục về việc xin ly hôn của chị Lê Thị H nhưng anh L vẫn cố tình không đến Tòa án làm việc. Vậy anh L đã tự chối bỏ các quyền được thể hiện mong muốn và nguyện vọng của mình trước pháp luật. Mặt khác các con chung đều có ý kiến được ở với chị H. Do đó xét cần giao 02 con chung là: Cháu Nguyễn Thị H1, cháu Nguyễn Bình M cho chị Lê Thị H là phù hợp thực tế và pháp luật. Về cấp dưỡng chị H không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nữa nên Hội đồng xét xử không xét đến.

Anh Nguyễn Văn L có quyền, nghĩa vụ được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không được ngăn cản.

Về tài sản chung, nhà ở và công nợ chung: Chị H và anh L không có nhà ở, tài sản và công nợ chung, không yêu cầu Toà án xem xét nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, 272 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 56, Điều 59, Điều 69, 71, 72, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 2 Điều 29; khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Căn cứ khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Mục 1.1 khoản 1 Phần II Danh mục mức án phí, lệ phí Toà án Ban hành kèm theo Nghị quyết 326/UBTVQH14;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H về việc "Ly hôn".

2. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn L.

3. Về con chung: Chị Lê Thị H và anh Nguyễn Văn L có 02 con chung là: Cháu

Nguyễn Thị H1, sinh ngày 03/9/2018; cháu Nguyễn Bình M, sinh ngày

16/8/2022. Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Thị H1 và cháu Nguyễn Bình

M cho chị Lê Thị H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cho đến

khi các con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác

theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Nguyễn

Văn L cho đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Anh Nguyễn Văn L có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung

không được ai ngăn cản.

4. Về tài sản chung, nhà đất chung: Chị H và anh L không đề nghị Toà án xem

xét giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xét đến.

5. Về công nợ chung: Chị H và anh L không nợ ai và không ai nợ anh chị, anh

chị không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

6. Về án phí:

Chị Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số

tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị H đã nộp theo biên lai số 0009102,

Ký hiệu: BLTU/26E ngày 14/04/2026 tại Thi hành án dân sự thành phố Hà

Nội. Chị Lê Thị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

7. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị H có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo

bản án ly hôn sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh

Nguyễn Văn L vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời

hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ