- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh Hòa cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ su…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thanh H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 601/2022/HS-ST Ngày: 29-12-2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Trúc Thuỷ
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Phi Hùng
2. Bà Huỳnh Thị Minh Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huệ - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Như Nên - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 554 /2022/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 598/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thanh H, tên gọi khác: Tý C, sinh năm 2000 tại Đồng Nai. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: K3/110, khu phố 5, phường H, thành phố H, tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: K3/110, khu phố 5, phường H, thành phố H, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Thanh B và bà Lê Thị N; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 02/7/2021, H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại phường Hóa An, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Ngày 21/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa ra Quyết định khởi tố bị can số 1118/QĐ ngày 21/11/2022 đối với H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 2948/LCCT ngày 28/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa. Ngày 07/11/2022, bị bắt truy nã và bị tạm giữ, chuyển tạm giam theo Lệnh số 11613/QĐ-VKSBH ngày 10/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an thành phố Biên Hòa (bị cáo có mặt).
- Bị hại: Anh Trần Quang T, sinh năm 2001.
Địa chỉ: 230 khu phố Hương Phước, phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai (Có mặt).
- Người làm chứng:
+ Anh Đặng Hoàng V, sinh năm 1995.
Địa chỉ: K2/130, khu phố 1, phường H, thành phố H, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).
+ Anh Nguyễn Long Q, sinh năm 2002.
Địa chỉ: K3/59, khu phố 5, phường H, thành phố H, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 05/4/2021, tại trước nhà của Lê Thanh H ở K3/110, thuộc khu phố 5, phường H, thành phố H, tỉnh Đồng Nai, sau khi đã uống rượu, H rủ và cùng với anh Trần Quang T (sinh năm 2001, ngụ tại K3/119, khu phố 5, phường H, thành phố H) và Đặng Hoàn V (sinh năm 1995, ngụ K2/320, khu phố 1, phường H, thành phố H) đánh bạc thắng thua bằng tiền với hình thức chơi bài cào cái 03 lá. Quá trình tham gia đánh bạc, H sử dụng 330.000đ (Ba trăm ba mươi nghìn đồng), T sử dụng 1.000.000đ (Một triệu đồng) và V sử dụng 300.000đ (ba mươi nghìn đồng) để đánh bạc.
Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc đánh bạc, H thua hết tiền và hỏi vay 1.000.000đ (Một triệu đồng) của anh T để tiếp tục đánh bạc. Anh T đưa cho H vay 1.000.000đ (Một triệu đồng) nhưng tỏ thái độ không hài lòng nên H trả lại số tiền vừa vay cho anh T và giữa H và anh T mâu thuẫn có lời qua tiếng lại. H nghi ngờ trong lúc đánh bạc anh T chơi gian lận và bực tức về thái độ nêu trên của anh T nên H đi vào nhà bếp của H lấy 01 dao dài khoảng 50cm, cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại, bản rộng 10cm, đi ra chỗ anh T đang ngồi và vung dao chém 01 (một) nhát về phía anh T. Anh T đưa tay phải lên đỡ nên lưỡi dao chém trúng cẳng tay phải anh T gây thương tích. Cùng lúc này, anh V và một số người căn ngăn, anh T bỏ chạy thoát. Sau đó, anh T được mọi người đưa đến Bệnh viện Quốc tế Chấn thương-Chỉnh hình Sài Gòn-Đồng Nai cấp cứu và điều trị.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Hòa. Trong giai đoạn truy tố, H đã bỏ trốn và bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa ra Quyết định truy nã. Đến ngày 07/11/2022, H bị Công an phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa bắt theo Quyết định truy nã. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Lê Thanh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tại kết luận pháp y về thương tích số 0466/TgT/2021 ngày 02/6/2021 của Giám định viên Trung tâm pháp y Đồng Nai kết luận anh Trần Quang T bị thương tích như sau:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Tổn thương gãy 1/3 trên xương trụ phải đã phẫu thuật kết hợp xương hiện can tốt, trục thẳng. Tỷ lệ 08%.
- Sẹo 1/3 trên mặt sau cẳng tay phải kích thước 5,5x0,3cm. Tỷ lệ 02%.
- Sẹo mổ cẳng tay phải kích thước 06x0,3cm. Tỷ lệ 02%.
- Sẹo mổ cẳng tay phải kích thước 04x0,3cm. Tỷ lệ 02%.
2. Kết luận:
Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế Quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Trần Quang Tiến áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư là: 13%.(Mười ba phần trăm).
3. Kết luận khác: Vật gây thương tích: vật sắc”.
Vật chứng vụ án: 01 dao dài khoảng 50cm, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại, rộng 10cm của Lê Thanh H sử dụng chém anh Trần Quang T gây thương tích. Sau khi gây án, H mang dao vứt xuống sông (khu vực chân cầu Bửu Hòa) nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Quang T yêu cầu Lê Thanh H bồi thường tiền điều trị thương tích và các yêu cầu khác là 35.000.000đ (Ba mươi lăm triệu đồng). Hiện gia đình Lê Thanh H đã bồi thường cho bị hại là 18.000.000đ (Mười tám triệu đồng).
Tại bản cáo trạng số 575/CT-VKSBH ngày 25/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Lê Thanh H về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Thanh H với mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo Lê Thanh H bồi thường cho anh Trần Quang T theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về việc truy tố của Viện kiểm sát, không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và trình bày của bị hại, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên toà, bị hại anh Trần Quang T trình bày yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho anh T tổng số tiền 35.000.000 đồng do sức khỏe bị xâm phạm. Tại quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường cho anh T số tiền 18.000.000 đồng, nên bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho anh T số tiền 17.000.000 đồng.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra, không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người làm chứng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Trên cơ sở khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, kết luận giám định, lời khai của bị hại, lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có cơ sở xác định: Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 05/4/2021, tại trước nhà của Lê Thanh H ở K3/110, thuộc khu phố 5, phường H, thành phố H, tỉnh Đồng Nai, H cùng với anh Trần Quang T và Đặng Hoàn V đang đánh bạc thắng thua bằng tiền hình thức bài cào ba lá thì H thua hết tiền nên hỏi vay 1.000.000đ (một triệu đồng) của anh T để đánh bạc. Anh T cho H vay 1.000.000đ (Một triệu đồng) nhưng tỏ thái độ không hài lòng nên H trả lại tiền cho anh T và giữa H và anh T xảy ra mâu thuẫn lời qua tiếng lại. Bị cáo H có hành vi sử dụng 01 dao dài 50cm, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại, rộng 10cm chém 01 nhát trúng cẳng tay phải anh T gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 13% (Mười ba phần trăm).
Nhận thấy, bị cáo và bị hại là bạn bè, có quan hệ họ hàng với nhau, nhưng vì mâu thuẫn nhỏ nhặt mà bị cáo H đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm là con dao dài 50cm, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại, rộng 10cm gây thương tích cho anh T với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13%. Điều này thể hiện tính côn đồ khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.
Hành vi như trên của bị cáo đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp điểm a, i khoản 1 Điều 134) Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Từ những căn cứ trên, xét thấy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân thành phố Biên Hòa đã truy tố đối với bị cáo Hòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình.
Bị cáo có nhân thân xấu. Trong quá trình bị cáo được tại ngoại điều tra, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa ra Quyết định khởi tố bị can số 1118/QĐ ngày 21/11/2022 đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Hành vi cố ý gây thương tích của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương. Do vậy, đối với bị cáo cần phải áp dụng một mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ mà hành vi của bị cáo đã gây ra nhằm mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Đã tự nguyện bồi thường chi phí điều trị thương tích cho bị hại; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: 01 dao dài khoảng 50cm, cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại, rộng 10cm của bị cáo H sử dụng chém anh T gây thương tích. Sau khi gây án, bị cáo mang dao vứt xuống sông (khu vực chân cầu Bửu Hòa) nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng), bị cáo đồng ý. Tại cơ quan điều tra, bị cáo đã bồi thường được 18.000.000 đồng. Vì vậy, bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho anh T số tiền 17.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Đối với hành vi đánh bạc của bị cáo và Trần Quang T, Đặng Hoàn V. Xét thấy, số tiền bị cáo và T, V sử dụng để đánh bạc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và cả ba đều không có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc nên không có đủ cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngày 20/01/2022, Công an thành phố Biên Hòa đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với bị cáo và T, V về hành vi đánh bạc.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 850.000đ (Tám trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a, i khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Lê Thanh H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Thanh H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2022.
2. Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015:
Buộc bị cáo Lê Thanh H bồi thường cho anh Trần Quang T số tiền 17.000.000 đồng (Mười bảy triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Lê Thanh H phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và số tiền 850.000đ (Tám trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
4. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Nhà tạm giữ; - VKSND thành phố Biên Hòa; - Cơ quan CSĐT công an TP. Biên Hòa; - Chi cục THADS TP. Biên Hòa; - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Trần Trúc Thuỷ |