- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Hoàng Mỹ T - phạm tội tham ô tài sản (điều 353 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 353 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH! Bản án số: 601/2020/HS-PT ! Ngày: 23-12-2020 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:!
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hà
Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Văn Hậu
2. Ông Vũ Hoài Nam
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Trung Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 515/HSPT ngày 04/11/2020 đối với Nguyễn Thị Hoàng Mỹ T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 139/2020/HS-ST ngày 21/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn!Thị!Hoàng!Mỹ!T; giới tính: nữ; sinh năm: 1981 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: B5/84 TVĐ, ấp 2, xã TN, huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: kế toán; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông NVT và bà NTM; hoàn cảnh gia đình: có chồng (đã ly hôn) và 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo tại ngoại (có mặt).
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2002, Nguyễn Thị Hoàng Mỹ T được Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh tuyển dụng làm nhân viên hợp đồng tại trường mẫu giáo TT 19 (nay là trường mẫu giáo HĐ) thuộc xã Tân Nhựt, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 01/4/2012, T được điều động từ trường mẫu giáo TT 19 về làm kế toán tại Trường mầm non HH theo quyết định của Phòng giáo dục huyện Bình Chánh. Đến ngày 29/8/2014 T được bổ nhiệm chức danh kế toán trưởng Trường mầm non HH. Trong thời gian công tác tại Trường mầm non HH từ tháng 01/2017 đến 4/2017, T đã viết 12 phiếu “Ủy nhiệm chi” sau đó giả chữ ký của hiệu trưởng bà Nguyễn Thị Đ là chủ tài khoản của Trường trên các phiếu ủy nhiệm chi và đưa cho bộ phận văn thư đóng dấu, ghi tên mình là đơn vị thụ hưởng. T sử dụng 12 phiếu “Ủy nhiệm chi” trên tới Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Bình Chánh thực hiện chuyển tổng số tiền 221.392.920 đồng từ tại khoản của Trường mầm non HH (số tài khoản 6440201012682 vào tài khoản của T số 6440215014009 gồm:
- Ủy nhiệm chi ngày 23/01/2017, số tiền: 21.500.000 đồng.
- Ủy nhiệm chi ngày 24/01/2017, số tiền: 17.545.000 đồng.
- Ủy nhiệm chi ngày 06/02/2017, số tiền: 12.550.000 đồng.
- Ủy nhiệm chi ngày 17/02/2017, số tiền: 17.250.000 đồng.
- Ủy nhiệm chi ngày 23/02/2017, số tiền: 12.672.000 đồng.
- Ủy nhiệm chi ngày 28/02/2017, số tiền: 18.048.960 đồng.
- Ủy nhiệm chi ngày 09/3/2017, số tiền: 18.500.000 đồng.
- Ủy nhiệm chi ngày 10/3/2017, số tiền: 18.048.960 đồng.
- Ủy nhiệm chi ngày 24/3/2017, số tiền: 28.580.000 đồng.
- Ủy nhiệm chi ngày 05/4/2017, số tiền: 15.250.000 đồng.
- Ủy nhiệm chi ngày 11/4/2017, số tiền: 22.548.000 đồng.
- Ủy nhiệm chi ngày 30/3/2017, số tiền: 18.900.000 đồng. Ngoài ra, khi được phân công trực tiếp thu tiền học phí bán trú của học sinh nộp cho Trường vào tháng 01/2017, T còn chiếm đoạt số tiền 36.900.000 đồng. Tại bản kết luận giám định số 1151/KLGĐ-TT ngày 08/10/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Chữ ký mang tên Nguyễn Thị Đ trên 12 phiếu “Ủy nhiệm chi” cần giám định so với chữ ký của bà Nguyễn Thị Đ trên mẫu so sánh không phải do cùng một người ký ra. Tính đến ngày 22/5/2018, T đã khắc phục toàn bộ số tiền chiếm đoạt 258.292.920 đồng cho Trường mầm non HH Tại bản án hình sự sơ thẩm số 139/2020/HS-ST ngày 21/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã quyết định:
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 353; điểm b, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54 Bộ luật Hình sự + Xử phạt: Nguyễn Thị Hoàng Mỹ T 05 (năm) năm tù về tội “Tham ô tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 05/10/2020, bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm nêu quan điểm kết luận cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội “Tham ô tài sản” là đúng người, đúng tội, mức hình phạt đã tuyên là thỏa đáng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không có tình tiết mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo trong hạn luật định nên hợp lệ.
Xét lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà nội dung bản án sơ thẩm đã nêu, có đủ cơ sở xác định: Lợi dụng chức vụ được giao là kế toán trưởng Trường mầm non HH, từ tháng 01 đến tháng 4/2017, bị cáo trực tiếp thu tiền học của học sinh nhưng không nộp lại mà chiếm đoạt số tiền 36.900.000 đồng. Đồng thời bị cáo giả chữ ký của hiệu trưởng trên Ủy nhiệm chi thực hiện rút tiền trong tài khoản của Trường mầm non HH được mở tại Ngân hàng Agribank số tiền 221.392.920 đồng. Như vậy, bị cáo đã chiếm đoạt tổng số tiền 258.292.920 đồng của Trường mầm non HH. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội "Tham ô tài sản" theo điểm d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự là xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về mức hình phạt, mặc dù bị cáo phạm tội lần đầu, hoàn cảnh gia đình có khó khăn nhất định, hiện đã ly hôn và đang nuôi dưỡng 02 con nhỏ. Tuy nhiên, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần thể hiện thái độ coi thường pháp luật, tội phạm do bị cáo gây ra làm sói mòn lòng tin của nhân dân vào đội ngũ cán bộ, viên chức nên mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo là thỏa đáng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ mới nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT!ĐỊNH!
- Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn!Thị!Hoàng!Mỹ!T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 353; điểm b, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54 Bộ luật Hình sự.
+ Xử phạt: Nguyễn!Thị!Hoàng!Mỹ!T 05 (năm) năm tù về tội “Tham ô tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tối Cao; (1) - TAND Cấp Cao tại Tp. HCM (1) - VKSND Tp.HCM; (3) - VKSND huyện Bình Chánh; (1) - Chi cục THA huyện Bình Chánh; (1) - TAND huyện Bình Chánh; (2) - Công an huyện Bình Chánh; (1) - Phòng PC 53 - CA Tp. HCM; (1) - Bị cáo; (1) - Sở Tư pháp; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu, hình sự, hồ sơ. (18) (4) | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM! THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! Nguyễn!Văn!Hà |