vanban.org

Bản án 601/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị T đối với ông Nguyễn Văn T1.

Về quan hệ hôn nhân: T được ly hôn ông Nguyễn Văn T1 (Giấy chứng nhận kết hôn số 10, quyển số 01/2010, ngày 06/01/2010 do Ủy ban nhân dân phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn T1 không còn giá trị pháp lý). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? I. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị T đối với ông Nguyễn Văn T1.
  • Căn cứ chính? Luật Thi hành án dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH TÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 601/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 27/5/2019
V/v Tranh chấp Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Phong.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đinh Minh Hoàng

Bà Phạm Thị Phạm Hương.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Liên – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân: Bà Nguyễn Thị Thu – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1420/2018/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 9 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2019/QĐXX-ST ngày 18 tháng 4 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 21/2019/QĐST-HNGĐ ngày 06/5/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

T, sinh năm: 1984. Thường trú: xxx LVQ

. (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).

- Bị đơn:

T1, sinh năm: 1983. Thường trú: xxx LVQ

. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn và bản tự khai của của bà Nguyễn Thị T, cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được xác định như sau:

T và ông Nguyễn Văn T1 tự nguyện đăng ký kết hôn và chung sống với nhau vào năm 2010 (Giấy chứng nhận kết hôn số 10, quyển số 01/2010, ngày 06/01/2010 do Ủy ban nhân dân phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh cấp). Trong quá trình chung sống cùng nhau, do tính tình hai bên không hợp nên bà T và ông T1 thường xuyên cãi nhau.Từ năm 2015 mâu thuẫn giữa hai bên ngày càng trầm trọng, ông T1 thường xuyên không về nhà, không có trách nhiệm với gia đình, không quan tâm đến bà T cũng như việc chăm sóc, nuôi dạy con cái cả về vật chất lẫn tinh thần, bà T và ông T1 đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay bà Nguyễn Thị T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên làm đơn khởi kiện ông Nguyễn Văn T1, với yêu cầu cụ thể như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T yêu cầu được ly hôn ông Nguyễn Văn T1.

Về con chung:

T và ông Nguyễn Văng T1 có 02 (hai) con chung tên Nguyễn Văn Tuấn A, sinh ngày 28/8/2010 và Nguyễn Gia B, sinh ngày 13/6/2012. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả 02 (hai) con chung nêu trên.

Về cấp dưỡng nuôi con:

T không yêu cầu ông Nguyễn Văn T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung:

T xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vụ án đã được Tòa án hòa giải nhưng không thành. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai.

Trước khi mở phiên tòa, bà Nguyễn Thị T có đơn xin vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu như tại đơn khởi kiện.

Ông Nguyễn Văn T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ các quy định của pháp luật về tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tuân thủ quy định pháp luật về tố tụng. Nguyên đơn đã chấp hành các quy định tố tụng dân sự; bị đơn vắng mặt không rõ lý do.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Xét đơn xin ly hôn của bà Nguyễn Thị T cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, có cơ sở xác định đây là vụ kiện hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn”; bị đơn là ông Nguyễn Văn T1 có nơi cư trú tại xxx LVQ

. Do đó, vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị T có đơn xin vắng mặt; ông Nguyễn Văn T1 mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T, ông T1 là phù hợp.

Về nội dung: Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị T đối với ông Nguyễn Văn T1. Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở để chấp nhận. Bởi lẽ, qua lời trình bày của bà T thì trong quá trình chung sống, vợ chồng bà T và ông T1 đã phát sinh mâu thuẫn gay gắt. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông T1 không có trách nhiệm với gia đình, không quan tâm đến việc chăm lo, dạy dỗ con cái cả về vật chất lẫn tinh thần. Ông T1 thường xuyên không về nhà, hai bên đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay, thời gian sống ly thân càng làm cho tình cảm vợ chồng thêm phai nhạt nên bà T nộp đơn khởi kiện để yêu cầu ly hôn ông T1. Từ khi thụ lý đơn xin ly hôn của bà Nguyễn Thị T, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Nguyễn Văn T1 đến Tòa án để ông T1 thực hiện các quyền, nghĩa vụ của bị đơn cũng như đã mở phiên hòa giải để tạo cơ hội cho bà T, ông T1 hàn gắn tình cảm nhưng ông T1 vắng mặt, điều đó thể hiện ông T1 không có thiện chí hòa giải, hàn gắn với bà T và cũng không thực hiện quyền phản đối, bác bỏ yêu cầu ly hôn của bà T. Do ông T1 vắng mặt nên Tòa án không nắm được nguyên nhân mâu thuẫn theo ý kiến của ông T1. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông T1 đã trầm trọng, không còn khả năng để hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay bà Nguyễn Thị T yêu cầu được ly hôn ông Nguyễn Văn T1, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở để chấp nhận.

Về con chung:

T và ông Nguyễn Văn T1 có 02 con chung tên Nguyễn Văn Tuấn A, sinh ngày 28/8/2010 và Nguyễn Gia B, sinh ngày 13/6/2012.

Xét, hiện nay 02 trẻ Nguyễn Văn Tuấn A, sinh ngày 28/8/2010 và Nguyễn Gia B, sinh ngày 13/6/2012 đang trực tiếp sống cùng bà T, nên để ổn định cuộc sống cho 02 trẻ, Hội đồng xét xử giao 02 trẻ Nguyễn Văn Tuấn A và Nguyễn Gia B cho bà Nguyễn Thị T tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con:

T không yêu cầu ông Nguyễn Văn T1 cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung, nợ chung:

T xác nhận không có, Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí:

T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

Lời đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân là phù hợp quy định của pháp luật nên thống nhất.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 19, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

I. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị T đối với ông Nguyễn Văn T1.

1. Về quan hệ hôn nhân:

T được ly hôn ông Nguyễn Văn T1 (Giấy chứng nhận kết hôn số 10, quyển số 01/2010, ngày 06/01/2010 do Ủy ban nhân dân phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Văn T1 không còn giá trị pháp lý).

2. Về con chung: Giao 02 (hai) trẻ Nguyễn Văn Tuấn A, sinh ngày 28/8/2010 và Nguyễn Gia B, sinh ngày 13/6/2012 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Văn T1 không cấp dưỡng nuôi con.

Người không nuôi con có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi quyền nuôi con hoặc

cấp dưỡng nuôi con.

4. Về tài sản chung, nợ chung:

T xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xét.

5. Về án phí:

T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được cấn trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2018/0030415 ngày 27/9/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

II. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ