- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "VU THANH H"
- Tòa quyết gì? Tuyên : Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH M như sau:
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật tố t ng dân sự; Điều 310 Bộ luật tố t ng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 600/2022/LĐ-PT Ngày: 26-9-2022 V/v Tranh chấp hợp đồng lao động - đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Giang
Các Thẩm phán:
1/ Ông Nguyễn Ngọc Tài
2/ Ông Phan Nguyên Nguyên
- Thư ký phiên toà: Bà Tăng Thị Hồng Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Tôn Mạnh Hùng – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 17, 23 tháng 6 và 26 tháng 9 năm 2022, tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đ m phiên tòa t công khai đối v i v án lao động ph c th m th lý số 38/2021/TL T-LĐ ngày 05 tháng 11 năm 2021 về việc: “Tranh chấp hợp đồng lao động – Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật”.
Do bản án lao động sơ th m số 1689/2021/LĐ-ST ngày 01 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa v án ra t ph c th m số 5027/2022/QĐ-PT ngày 15 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Vũ Thanh H, sinh năm 1979; Địa chỉ: Số A đường số D, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt);
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Trường T, sinh năm 1997; Địa chỉ: Lầu C, số A , hường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt);
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Trịnh Văn L, thuộc Công ty L3, Đoàn luật sư Thành phố H; Địa chỉ: Lầu C, số A , hường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
Bị đơn: Công ty TNHH M;
Địa chỉ tr s : Số D đường T, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
Địa chỉ văn phòng đại diện: Số A đường số E, khu đô thị S, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ T1, sinh năm 1990 (Giấy ủy quyền ngày 26/4/2022); Địa chỉ: A N, hường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt);
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Mạnh Hoàng S, thuộc Công ty L4, Đoàn luật sư Thành phố H; Địa chỉ: Số G đường H , phường G, quận , Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt);
Người kháng cáo: Công ty TNHH M – Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Vũ Thanh H trình bày:
Ngày 14/11/2019, bà H nhận được thư mời nhận việc vị trí Giám đốc Nhân sự v i mức lương 42.000.000 đồng/tháng của Công ty TNHH M do ông Trần Xuân T2 làm Tổng Giám đốc ký. Theo thư mời nhận việc, ngày 18/11/2019, bà H bắt đầu làm việc từ theo bà H thì trong quá trình làm việc bà hoàn thành tất cả mọi việc, không nghỉ ph p, không đi trễ về s m, không vi phạm bất kỳ nội quy nào. lương Ngày 13/02/2020, nhận được lượng của tháng 01/2020 thì bà H thấy Giám đốc về việc lý do giảm lương thì nhận được ngay quyết thôi việc ký chiều ngày 13/02/2020 cho bà H nghỉ việc từ ngày 13/02/2020, trong quyết định ghi Công ty sẽ thanh toán lương cho bà đến hết ngày 13/02/2020 nhưng đến nay bà H vẫn chưa nhận được bất kể số tiền nào kể từ ngày nghi. Bà H có liên lạc hỏi về tiền lương chưa chuyển thì nhân sự của C ty nói trên bảng lương thì có tính nhưng sếp không cho chuyển lượng cho bà. Bà H đề nghị Công ty TNHH M trả cho bà H những khoản sau:
Tiền lương tháng 01/2020: 42.000.000 40% = 16.800.000 đồng.
Tiền lương tháng 02/2020: 42.000.000/25 11 = 18.480.000 đồng.
Tiền lương đến khi hết HĐLĐ: 42.000.000 12 tháng = 504.000.000 đồng.
Tiền BHXH, BHYT, BHTN, TNLĐ, Công đoàn 23,5%/16.800.000= 47.376.000 đồng.
L i suất ngân hàng 5%/12 tháng: 29.332.800 đồng.
Tổng cộng: 615.988.800 đồng.
Số tiền trên chưa bao gồm l i suất lũy tiến trong một năm, tiền phạt do không trả lương của Công ty TNHH M.
Ngoài ra tại thời điểm bà làm việc tại Công ty thì Công ty không tham gia bảo hiểm hội cho người lao động mặc dù bà đ nói rõ làm như vậy là sai quy định, tôi nhiều lần trinh hồ sơ tham gia BHXH nhưng không được phê duyệt. Công ty cũng không nộp thuế cho cơ quan nhà nư c mà chuyển tiền Công ty vào tài khoản cá nhân, sau đó chuyển lương cho mọi người trong Công ty. Bà H có đơn yêu cầu bổ sung, đề nghị Công ty TNHH M bồi thường thêm 02 tháng lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật và 30 ngày ra quyết định không báo trư c theo luật lao động quy định. Tiền lương 02 tháng: 42.000.000 2 = 82.000.000 đồng Tiền lương 30 ngày không báo trư c: 42.000.000/26 30 = 48.461.538 đồng. Tổng cộng số tiền là 748.450.338 đồng.
Bị đơn - Công ty TNHH M có người đại diện ủy quyền - bà Đỗ Thị Hoài L1 trình bày:
Về khoản lượng tháng 01/2020: 16.800.000 đồng và lương tháng 02/2020: 18.480.000 đồng, Công ty không đồng ý trả. Công ty trả lương theo hệ thống lương 3 ngay trong thư mời nhận việc mà người kh i kiện nộp cho Tòa án thể hiện rất rõ điều này, hơn nữa bản thân bà H từng là Giám đốc Nhân sự, nên bà H hiểu rõ chính sách về lương. (Hệ thống lương 3 là phương pháp tính toán tiền lương dựa theo 3 yếu tố cơ bản: 1 (Pay for P): Trả lương cho vị trí công việc; P2 (Pay for P1): Trả lương cho năng lực của người giữ vị trí công việc; 3 (Pay for P): Trả lương cho kết quả đạt được của người giữ vị trí công việc).
Trong thời gian làm việc, bà H thường uyên không hoàn thành công việc được giao vì vậy khi đánh giá lương theo 3 bà H không đạt. Về khoản lương 12 tháng: 504.000.000 đồng, Công ty không đồng ý b i vì việc Công ty quyết định sa thải bà H là hoàn toàn đ ng theo quy định của háp luật. Theo Bộ luật lao động năm 2012, căn cứ theo Điều 2 và Điều 3 của Thư mời nhận việc ngày 14/11/2019, hai bên thỏa thuận lương th việc bằng 85% của mức lương gộp và thời gian th việc là 02 tháng. Tuy nhiên, bà H lợi d ng sự tin tư ng của Ban Tổng Giám đốc, lợi d ng chức v quyền hạn của mình lập bảng lương, trình ký đi lương cho bản thân mình vượt quá thỏa thuận của hai bên khi ký thư mời nhận việc. C thể như sau:
Căn cứ thư mời nhận việc ngày 14/11/2019, ngày nhận việc chính thức 18/11/2019. Theo đó, giữa Công ty và bà H có thỏa thuận về tiền lương và thời gian th việc như sau:
- Lương gộp 42.000.000 đồng/tháng theo chính sách lương c thể như sau:
+ Lương cơ bản: 40% lương gộp.
+L2 chức danh theo vị trí công việc: 30% (năng lực vị trí và năng lực cốt lõi).
+ Thư ng theo m c tiêu đạt được: 30% lương gộp. Nếu trên 80% tỷ lệ đạt được m c tiêu thì phần thư ng sẽ cộng thêm 20% của mức M (3). L2 trong thời gian th việc: Hư ng 85% của kết quả m c (1), (2), (3) Thời gian th việc 02 tháng.
Ngày bà H có trình ký Tổng Giám đốc bảng chi lương tháng 12/2019, theo đó lương tháng 12 của bà H thực nhận sau khi khấu trừ thuế TNCN là: 42.618.900 đồng cao hơn 100% lương gộp của bà H. Công ty phát hiện ra sự việc nên đ có thư mời bà H tham gia buổi họp lý kỷ luật lao động và quyết định sa thải bà H theo qui định tại Điều 29 Nội quy lao động được Tổng Giám đốc ký ban hành năm 2015. Theo số liệu từ bộ phận kế toán thì lương trư c thuế tháng 12/2019 của bà H là 44.520.000 đồng. Theo công thức tính lương th việc, giả định bà H đạt kết quả tốt và đạt 100% mức thư ng theo m c tiêu đạt được thì:
+ L2 cơ bản 40% lương gộp: 42.000.000 40% 85% =14.280.000 (1)
+ Lương chức danh theo vị trí công việc 30%: 42.000.000 30% 85% =10.710.000 đồng (2).
+ Thư ng theo m c tiêu đạt được: 30% + 20% thư ng tại m c (3): (42.000.000 x 30% x 85%) + 20% (42.000.000 x 30% x 85%) = 10.710.000 + 2.142.000=12.852.000 đồng (3).
Kết quả: (1)+(2)+(3)= 14.280.000 + 10.710.000+12.852.000=37.842.000 đồng (bao gồm thuế TNCN). Do vậy tổng số tiền bà H chiếm đoạt của Công ty theo đợt tính lượng tháng 12/2019 khi đang làm Giám đốc nhân sự là: 44.520.000 - 37.842.000 = 6.678.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm bảy mươi tám nghìn đồng), Nếu căn cứ theo qui định tại Điều 355 Bộ luật Hình sự năm 2015 hành vi của bà H có dấu hiệu cấu thành tội “Lạm d ng chức v chiếm đoạt tài sản”, vì t thấy bà H có thời gian làm việc tại công ty, từng được Tổng Giám đốc tin tư ng, vì chính sách nhân đạo nên Công ty không tố cáo lên cơ quan có th m quyền.
- Về khoản Bảo hiểm các loại ....23,5% lương: 47.376.000 đồng; l i suất 5%: 29.332.800 đồng, Công ty không đồng ý. Công ty thực hiện sa thải bà H là đ ng theo quy định pháp luật nên Công ty không đồng ý trả bảo hiểm các loại.
Tại Bản án lao động sơ thẩm số số 1689/2021/LĐ-ST ngày 01 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, tuyên xử:
Tuyên :
Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn - bà Vũ Thanh H: - Buộc Công ty TNHH M phải trả cho bà H số tiền bao gồm:
- Tiền lương tháng 01/2020 là: 42.000.000 40% = 16.800.000 đồng.
- Tiền lương 12 tháng từ 18/01/2020 đến 17/01/2021: (42.000.000 đồng 12 tháng) – ((42.000.000 đồng 12 tháng) 30%) = 352.800.000 đồng .
- Tiền lương 02 tháng: 42.000.000 2 = 84.000.000 đồng
Tiền lương 30 ngày không báo trư c là 01 tháng lương: 42.000.000đồng
Tổng cộng là 495.600.000 đồng (bốn trăm chín mươi lăm triệu sáu trăm nghìn đồng).
Việc giao nhận tiền được thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có th m quyền, ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
- Buộc Công ty TNHH M liên hệ v i cơ quan bảo hiểm hội có th m quyền để nộp tiền bảo hiểm hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong khoảng thời gian từ ngày 18/01/2020 đến ngày 17/01/2021 cho bà H, trên cơ s mức lương 16.800.000 đồng/tháng.
Về án phí: Bà Vũ Thanh H không phải chịu tiền án phí. Công ty TNHH M phải chịu sổ tiền án phí 16.810.000 (Mười sáu triệu tám trăm mười ngàn năm trăm ba mươi chín) đồng. Công ty TNHH M chưa nộp tiền án phí.
Ngày 6 tháng 7 năm 2021, Công ty TNHH M có đơn kháng cáo không đồng ý quyết định của bản án sơ th m v i lý do như sau: Khi giải quyết v án Tòa án Nhân dân thành phố Thủ Đức đ thu thập chứng cứ không đầy đủ, không xem t đến thỏa thuận của các bên khi chấm dứt việc làm tại công ty của bị đơn thông qua quyết định thôi việc (không số) của Công ty ký ngày 13 tháng 2 năm 2020 tại tr s chính của công ty tại thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Đề nghị Tòa án cấp ph c th m em t lại toàn bộ nội dung sự việc có tranh chấp để bảo đảm tính khách quan công bằng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là bà Nguyễn Thị Mỹ T1 trình bày: Trong giai đoạn t sơ th m, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ít nhất hai lần có đơn yêu cầu Tòa án cấp sơ th m cho tiến hành ác minh thu thập chứng cứ để ác định rõ về thời gian bà H chính thức được nhận vào làm việc tại Công ty CP D, Thành phố Hồ Chí Minh để ác định bà H làm việc tại đây có thông qua hợp đồng lao động hay không, và hiện tham gia BHXH,BHYT,BHTN như thế nào, nhưng Tòa án cấp sơ th m không tiến hành thu thập chứng cứ bổ sung. Vì thế, bản án sơ th m, cấp sơ th m đ giải quyết quyền lợi cho bà H chưa đ ng quy định. Mặt khác, tại phần đầu bản án Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đ tóm tắt nội dung sự việc chưa đầy đủ, không nêu rõ sự việc tranh chấp bà H bị Công ty TNHH M lý kỷ luật lao động bằng hình thức sa thải theo Quyết định số 06/2020/QĐ-MNĐ ngày 13 tháng 2 năm 2020, dẫn đến sai sót trong việc đánh giá chứng cứ thay vì thỏa thuận chấm dứt việc làm tại công ty lại là đơn phương chấm dứt việc làm trái pháp luật.
Nguyên đơn bà Vũ Thanh H trình bày: Không đồng ý v i nội dung kháng cáo của bị đơn, bà cho rằng Công ty TNHH M phản ánh nội dung sự việc có tranh chấp không trung thực. Theo bà H khai tại phiên tòa, bà đang làm việc bình thường tại công ty của bị đơn thì nhận được quyết định thôi việc do tổng giám đốc công ty ký. Quyết định này là đơn phương và bị đơn chưa thanh toán cho nguyên đơn bất kỳ khoản tiền lương nào kể từ khi nhận việc, sau đó có hành vi chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật đối v i nguyên đơn trong thời hạn 1 năm. Từ những lý do này, bản án sơ th m của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đ giải quyết đ ng về nội dung sự việc có tranh chấp. Đề nghị tòa ph c th m không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Trường hợp bị đơn vẫn tiếp t c kháng cáo, đề nghị cấp ph c th m chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải tiếp t c bồi thường thiệt hại cho người lao động v i mức tiền lương tương ứng đ được Tòa cấp sơ th m ấn định đến ngày giải quyết ph c th m.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm:
Về hình thức: Những người tiến hành tố t ng và những người tham gia tố t ng trong quá trình giải quyết v án giai đoạn ph c th m đ tuân thủ theo các quy định của pháp luật. V án ph c th m bị k o dài có lý do chính đáng do th m phán được phân công giải quyết bị bệnh k o dài t lại được giải quyết đ ng hạn nhưng phải tạm ngừng và giải quyết khiếu nại về tố t ng.
Về nội dung: em t tài liệu chứng cứ đ được thu thập thấy rằng, khi giải quyết tranh chấp lao động về tiền lương Hội đồng t sơ th m đ vi phạm nghiêm trọng trong thủ t c tố t ng dân sự vì không tiến hành hòa giải tại cơ s có sự tham gia của cơ quan quản lý lao động tại địa phương vi phạm Khoản 4 Điều 188 Bộ luật Lao động năm 2019, không bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên đương sự. Việc thu thập chứng cứ để giải quyết việc bồi thường thiệt hại do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động cũng chưa đầy đủ cần bổ sung thêm. Vì lý do trên đề nghị Tòa ph c th m hủy toàn bộ bản án sơ th m, giao hồ sơ về cấp sơ th m t lại theo đ ng quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án, qua th m vấn công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng t ph c th m nhận định:
Về hình thức: đơn kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH M được làm và thực hiện trong thời hạn luật định. Bị đơn đ nộp phần tạm ứng án phí ph c th m là hợp lệ nên được chấp nhận em t theo thủ t c ph c th m.
Về nội dung:
Xem t yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH M, Hội đồng t ph c th m t thấy: trình bày trong đơn kháng cáo, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn cho rằng trong quá trình giải quyết v án, Tòa án cấp sơ th m đ tiến hành thu thập chứng cứ không đầy đủ, bỏ qua tiến trình tố t ng là hòa giải tại cơ s đối v i tranh chấp lao động về tiền lương là vi phạm nghiêm trọng thủ t c tố t ng theo quy định tại Khoản 2, Khoản 4 Điều 188 Bộ luật Lao động năm 2019.
Đồng thời, khi giải quyết v án này, Tòa án cấp sơ th m chưa em t đến Quyết định thôi việc do Tổng giám đốc Công ty TNHH M ban hành ngày 13 tháng 2 năm 2020 tại tr s chính của Công ty tại thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, trong đó ác định rõ bà H nghỉ việc tại Công ty uất phát từ sự thỏa thuận chấm dứt việc làm giữa hai bên chứ không phải do đơn phương chấm dứt việc làm trái pháp luật.
Tại phiên tòa ph c th m, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đề nghị hội đồng t ph c th m chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, hủy toàn bộ bản án sơ th m số 1689/2021/LĐ-ST ngày 01 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức t lại để bảo đảm trình tự tố t ng. Hội đồng t ph c th m t thấy đề nghị trên của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ, đ ng quy định, bảo đảm việc giải quyết v án, đ ng luật nên được chấp nhận.
Ngoài đề nghị trên của Đại diện Viện kiểm sát, qua nghiên cứu hồ sơ v án, Hội đồng t ph c th m cần lưu ý thêm rằng: phần tóm tắt nội dung của bản án sơ th m như đ được trích dẫn tại phần đầu bản án là chưa rõ ràng, chưa đề cập đến Quyết định sa thải số 06/2020/QĐ-MNĐ do Công ty TNHH M ban hành ngày 13/02/2020. Do đó, cần lưu ý làm rõ Quyết định sa thải này. Đồng thời, trư c khi m phiên tòa ph c th m, Công ty TNHH M đ ban hành Quyết định thu hồi Quyết định sa thải số 06/2020/QĐ-MNĐ ngày 13 tháng 2 năm 2020. Vì vậy, phần phát sinh m i này chưa được em t, do đó, cần được đưa vào hồ sơ v án để được tiếp t c giải quyết khi t lại v án để đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự.
Về án phí lao động sơ th m: Do hủy án sơ th m nên án phí lao động sơ th m sẽ được em t lại khi giải quyết v án tại Cấp sơ th m.
Về án phí lao động ph c th m: Do hủy bản án sơ th m nên người kháng cáo không phải chịu án phí lao động ph c th m theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/NQ ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 310 của Bộ luật tố t ng dân sự năm 2015;
Tuyên : Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH M như sau:
1. Hủy toàn bộ bản án lao động sơ th m số 1689/2021/LĐ-ST ngày 01 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Giao toàn bộ hồ sơ v án về Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành t lại v án theo thủ t c chung.
3. Về án phí lao động sơ th m: sẽ được em t khi giải quyết lại v án.
4. Án phí lao động ph c th m: Công ty TNHH M không phải chịu án phí ph c th m. Hoàn lại cho Công ty TNHH M số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) đ tạm nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí ph c th m số AA/2018/0028801 ngày 08/7/2021 của Chi c c Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Bản án ph c th m có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - Tòa án nhân dân cấp cao tại TPHCM; - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TPHCM; - Viện kiểm sát nhân dân T HCM; - Tòa án nhân dân T Thủ Đức, T HCM; - Chi c c Thi hành án dân sự T Thủ Đức, TPHCM; - Các đương sự; - Lưu: V , HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Giang |