vanban.org

Bản án 60 — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "THAY ĐỔI NGƯỜI NUÔI CON TH - TR"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật T tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật T tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ GC
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B n án s : 60/2024/HNGĐ-ST
Ngày 05-4-2024
V/v “Thay đổi người trực tiếp
nuôi con sau ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GC, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Th o;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Công Mẫn;

2. Ông Phan Văn Hùng;

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hồng Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã GC, tỉnh Tiền Giang;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã GC tham gia phiên toà: bà Nguyễn Trường B o Vy - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã GC, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý s 234/2023/TL T-HNGĐ, ngày 22 tháng 11 năm 2023, về việc “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử s 28/2024/QĐ T-HNGĐ, ngày 08 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Văn Phú Th, sinh năm: 1988;

Địa chỉ: A1/5A đường TL , Tổ M, ấp M, xã TN, huyện BC, thành ph Hồ Chí Minh. (Có mặt)

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Huyền Tr, sinh năm: 1996; (Có mặt)

Địa chỉ: 16/1 khu ph B, phường B, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình tố tụng và tại phiên toà nguyên đơn trình bày:

Anh chị thuận tình ly hôn theo Quyết định s 48/2022/QĐ T-HNGĐ ngày 05/4/2022. Theo quyết định thì chị Nguyễn Thị Huyền Tr được trực tiếp nuôi dưỡng một người con chung tên Văn Phú Th1, sinh ngày 12/3/2020, anh không ph i cấp dưỡng nuôi con nhưng sau khi ly hôn anh vẫn chu cấp cho con đầy đủ. Khi mới ly hôn thì chị Tr gây khó dễ cho anh trong việc thăm con (mu n thăm con ph i báo trước và thăm vào chủ nhật), làm cho con anh không biết mặt cha, trong khi nghề nghiệp của anh là tài xế, giờ giấc không c định; còn sau này thì chị Tr và gia đình không làm khó anh thăm con nhưng do công việc anh thì bận, đi làm mệt, đường thì xa mà mỗi lần anh về thăm con tâm trạng anh không vui vì không thích gia đình bên chị Tr nên ít về thăm con (từ khi ly hôn đến nay thăm con được 03-04 lần). Mặt khác, gia đình chị Tr cũng khó khăn chăm sóc bé sẽ không t t bằng anh, gia đình anh có điều kiện hơn, thu nhập cao nên anh sẽ chăm sóc t t cho bé. Nếu được Toà án giao con cho anh nuôi dưỡng thì anh sẽ nghĩ làm tài xế chuyển sang buôn bán tại nhà để dành thời gian chăm sóc con, nhờ ông bà nội trông giúp và thuê thêm người để chăm bé. Môi trường học tập ở Thành ph Hồ Chí Minh sẽ cao hơn nhiều so với thị xã GC, nếu s ng với chị Tr sẽ không đ m b o tương lai cho bé. Nay anh yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con là cháu Văn Phú Th1 từ chị Nguyễn Thị Huyền Tr sang cho anh trực tiếp nuôi dưỡng với mục đích là anh được ở gần con không ph i đi xa, không ph i mang tâm lý không vui mỗi lần về thăm bé.

* Tại bản tự khai, quá trình tố tụng và tại phiên toà bị đơn trình bày:

Chị không đồng ý yêu cầu của nguyên đơn. Chị vẫn cho anh thăm con bình thường không hề ngăn c n nhưng anh Th xu ng thăm con đột xuất và nhắn tin kêu chị dẫn con ra địa điểm nào đó gặp chứ không vào nhà thăm, trong khi chị ph i đi làm, con ph i đi học, ph i báo trước cho chị để chị sắp xếp được thời gian. Anh Th làm tài xế không có thời gian chăm sóc cho con, cho dù có ông bà nội hay thuê người chăm sóc phụ thì không thể nào bằng mẹ ruột được. Con còn nhỏ, anh Th thì không thăm thường xuyên dẫn đến bé xa lạ với cha, chị không thể giao con cho anh trong tình trạng như vậy được. Con chung chị chăm sóc t t, cho đi học, tiêm chủng đầy đủ có xác nhận của giáo viên về sự phát triển của bé, ở địa phương chị cũng là công dân t t có xác nhận của chính quyền địa phương. Chị có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, đủ điều kiện nuôi con và chị không có vi phạm nghĩa vụ gì đ i với con mà ph i thay đổi người nuôi con. Quan trọng nhất là con còn nhỏ không thể thay đổi môi trường s ng đột ngột làm nh hưởng đến việc phát triển tâm lý của bé.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về t tụng: Trong quá trình thụ lý và xét xử vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia t tụng thực hiện đúng theo quy định của bộ luật t tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Th.

Về án phí: Đương sự ph i chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

au khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết qu tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền gi i quyết vụ án: Bé Văn Phú Th1 có địa chỉ tại phường 4, thị xã GC nên căn cứ vào kho n 3 Điều 28; điểm a kho n 1 Điều 35 và điểm i kho n 2 Điều 39 của Bộ luật T tụng dân sự thuộc thẩm quyền gi i quyết của Tòa án nhân dân thị xã GC, tỉnh Tiền Giang.

[2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Th yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, căn cứ Điều 84 luật hôn nhân và gia đình, kho n 3 Điều 28 của Bộ luật T tụng dân sự nên quan hệ pháp luật tranh chấp là “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn”.

[3] Về nội dung vụ án: Anh Th yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn với lý do: chị Tr gây khó khăn cho anh trong việc thăm con trong khi hàng tháng anh vẫn cấp dưỡng đầy đủ; gia đình anh có điều kiện t t hơn để nuôi con; thu nhập của anh cao hơn chị Tr; môi trường s ng ở Thành ph Hồ Chí Minh cao hơn nhiều so với môi trường s ng ở thị xã GC, chị Tr không đ m b o tương lai cho bé; mục đích của anh xin thay đổi người trực tiếp nuôi con là để anh được gần bé Th1 hơn, anh không ph i đi đường xa và không ph i gặp chị Tr cùng gia đình chị Tr mỗi lần về thăm con. Chị Tr không đồng ý yêu cầu của anh Th vì cho rằng b n thân đủ điều kiện trực tiếp nuôi con, chị đã làm t t nghĩa vụ của mình, không vi phạm gì để anh Th thay đổi người nuôi con.

Xét thấy việc anh Th, chị Tr cùng có yêu cầu nuôi dưỡng con chung là chính đáng vì sau khi ly hôn thì cha mẹ vẫn có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung chưa thành niên.

Tuy nhiên, theo điểm b kho n 2, Điều 84 Luật hôn nhân gia đình quy định: “....2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây: .... b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con....”. Hội đồng xét xử xét thấy từ sau khi anh Th chị Tr thuận tình ly hôn đến nay thì cháu Th1 vẫn s ng cùng chị Tr và được chị Tr trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng t t, cho đi học, tiêm chủng đầy đủ, phát triển t t về sức khoẻ và tinh thần có xác nhận của giáo viên ở cơ sở giáo dục mầm non nơi cháu Th1 theo học. Chị Tr cũng không có dấu hiệu gì về bao lực đ i với bé Th1. Qua xác minh ở địa phương cung cấp thì chị Tr chăm sóc bé t t, tạo mọi điều điện cho bé học tập và phát triển.

Việc anh Th cho rằng môi trường s ng ở thành ph Hồ Chí Minh cao hơn nhiều so với môi trường s ng sinh hoạt học tập ở thị xã GC đ i với một đứa trẻ hiện tại là chưa có căn cứ vì hiện tại bé s ng với mẹ ở thị xã GC vẫn được chăm sóc t t, giáo dục t t và đầy đủ về mọi mặt. Anh Th nêu lý do anh yêu cầu thay đổi người nuôi con là chị Tr làm khó anh trong việc thăm con để con không biết mặt cha nhưng anh không đưa ra chứng cứ gì chứng minh trong khi tại phiên toà anh thừa nhận lý do anh ít về thăm con là vì công việc mệt, đường xa, tâm trạng anh không vui mỗi lần về thăm con do không thích gia đình chị Tr (từ khi ly hôn đến nay anh thăm con được 03-04 lần), điều đó thể hiện anh chưa xây dựng tình c m đ i với con, con còn nhỏ ph i có thời gian xây dựng tình c m chứ không thể đột ngột làm thay đổi môi trường s ng của bé và thay đổi người nuôi con chỉ để khoẻ cho b n thân mình (được gần con, không ph i đi đường xa, không ph i gặp chị Tr và gia đình chị Tr).

Về điều kiện kinh tế: Anh Th làm nghề tài xế, chị Tr làm nhân viên văn phòng, xét về thu nhập thì thu nhập của anh Th cao hơn chị Tr, tuy nhiên, dù thu nhập của anh Th có cao hơn chị Tr đi nữa cũng không ph i điều kiện tiên quyết quyết định anh Th sẽ chăm sóc con t t hơn chị Tr bởi lẽ sau khi cha mẹ ly hôn thì việc giao con chưa thành niên cho ai trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng ph i đ m b o t t nhất cho con điều kiện phát triển toàn diện c về thể chất lẫn tinh thần. Anh Th trình bày nếu được nuôi con anh sẽ nghĩ nghề tài xế vì thời gian làm tài xế là không ổn định anh sẽ về buôn bán tại nhà của cha mẹ, thuê người chăm con, xét thấy từ khi thụ lý vụ án cho đến nay anh Th không đưa ra chứng cứ nào chứng minh cho việc anh sẽ có thu nhập ổn định sau khi nghỉ nghề tài xế.

Anh Th không có chứng cứ gì chứng minh chị Tr không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì vậy, để tạo điền kiện cho con trẻ phát triển ổn định tránh thay đổi môi trường s ng, học tập, sinh hoạt của con Hội đồng xét xử căn cứ Điều 84 luật Hôn nhân gia đình không chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn của anh Văn Phú Th.

[4]. Về án phí: Anh Th ph i chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật T tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Qu c hội. Chị Tr không ph i chịu án phí.

[5]. Về quyền kháng cáo của đương sự: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 271 và 273 Bộ luật T tụng dân sự.

[6]. ét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã GC, tỉnh Tiền Giang phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các l trên,

QUY T ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Kho n 3 Điều 28, điểm a kho n 1 Điều 35, điểm i kho n 2 Điều 39; Các Điều 147, 266, 271 và 273 của Bộ luật T tụng dân sự;

- Các Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Nghị quyết s 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Qu c Hội quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

X :

1. Không chấp nhận yêu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của anh Văn Phú Th.

2. Về án phí: Anh Văn Phú Th ph i nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào s tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu s 0000532 ngày 20 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã GC, tỉnh Tiền Giang. Như vậy, anh Th đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự có quyền kháng cáo b n án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. * Nơi nhận:

Cỡ chữ