- Tranh chấp gì? "Nguyễn Trọng Nam - Trôm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] . Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 7 Bộ luật Hình sự
| TßA ¸N NH©N D©N Thµnh phè ® tØnh l©m ®ång | CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ___________________ B¶n ¸n sè: 60/2018/HSST Ngµy : 26/4/2018 |
NH©N DANH
N íC CéNG HßA X· HéI CHñ NGHÜA ViÖT NAM
TßA ¸N NH©N D©N thµnh phè ®, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông HOÀNG TRÌNH
+ Các Hội thẩm nhân dân:
1/. Bà NGUYỄN THỊ LOAN
2/. Ông DƯƠNG HẢI LONG
- Thư ký phiên tòa: Ông NGUYỄN VĂN ĐỒNG - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Bà CAO THỊ HỒNG PHƯỢNG - Kiểm sát viên
Hôm nay, ngày 26 tháng 4 năm 2018. tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2018/HSST ngày 29 tháng 3 năm 2018; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/QĐ-HSST ngày 13 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN TRỌNG N. sinh ngày 01 tháng 5 năm 1984. Nơi sinh: Nghệ An. Nơi ĐKNKTT: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, Lâm Đồng. Chỗ ở: Ấp B, xã P, huyện N, Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: Lớp 8/12. Con ông: Nguyễn Trọng H, sinh năm 1956. Con bà: Từ Thị N, sinh năm 1963. Hiện ở tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, Lâm Đồng. Vợ: Hà Thị H, sinh năm 1989, có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2010. Hiện ở tại: Ấp B, xã P, huyện N, Đồng Nai. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt ngày 20/12/2017, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, Lâm Đồng, có mặt.
Người bị hại:
Anh Mạc Anh T, sinh năm 1996. Hộ khẩu thường trú tại: 42 - N, Phường 15, Quận 10, Thành phố H. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Chị Huỳnh Thị Thiên K, sinh năm 1986. Hộ khẩu thường trú tại: 2/7 - N, Phường 7, thành phố Đ, Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài, khoảng 10 giờ 30 ngày 19/12/2017, Nguyễn Trọng N mang theo 01 vam phá khóa, 01 thanh trợ lực hình chữ L, 01 biển số xe mô tô số 70E1-130.93 cùng 02 chìa khóa xe mô tô hiệu Yamaha và HonDa đi từ thành phố B, Đồng Nai lên thành phố Đ, Lâm Đồng với mục đích để trộm cắp xe mô tô. Khoảng 18 giờ cùng ngày, N đi bộ lòng vòng quanh khu vực Quảng trường L, Phường 10, thành phố Đ, Lâm Đồng để tìm kiếm xe mô tô để sơ hờ để trộm cắp thì phát hiện tại Bãi đỗ xe ô tô có 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ-đen biển kiểm soát 49B1-638.92 đang để tại đây, không có người trông coi. N tiến đến vị trí chiếc xe trên, dùng vam phá khóa gắn vào thanh trợ lực hình chữ L đã chuẩn bị từ trước, bẻ khóa 02 lần thì xe khởi động được. Sau đó N điều khiển xe mô tô vừa trộm cắp được chạy về hướng Thành phố H. Khi đi đến địa phận xã P, huyện Đ, Lâm Đồng thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt giữ cùng tang vật. Tại Công an thành phố Đ, Lâm Đồng, Nguyễn Trọng N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Tại kết luận định giá ngày 26/12/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Đ, Lâm Đồng xác định: Chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ-đen biển kiếm soát 49B1-638.92 là xe của anh Mạc Anh T thuê của chị Huỳnh Thị Thiên K trị giá 12.000.000 đồng. Quá trình điều tra anh Mạc Anh T đã ủy quyền lại cho chị Huỳnh Thị Thiên K giải quyết hậu quả. Chị Huỳnh Thị Thiên K đã nhận lại xe và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.
Ngoài ra, quá trình điều tra Nguyễn Trọng N còn khai nhận trước đó bị cáo còn trộm cắp 01 xe mô tô khác tại địa bàn thành phố Đ, Lâm Đồng đem về Đồng Nai bán nhưng đến nay chưa thu hồi được xe, chưa tìm ra người bị hại nên Cơ quan điều tra đã quyết định tách ra để điều tra và xử lý sau nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng chưa truy tố trong vụ án này.
Tại Cáo trạng số 53/CT-VKS ngày 27/3/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ truy tố Nguyễn Trọng N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trọng N khai nhận vào chiều tối ngày 19/12/2017 bị cáo đã có hành vi lợi dụng sơ hở của người bị hại, đã lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 xe mô tô trị giá 12.000.000 đồng tại Quảng trường Lâm Viên, Phường 10, thành phố Đ, Lâm Đồng với mục đích để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân với các hành vi cụ thể như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu là đúng, bị cáo không thắc mắc hay khiếu nại gì về nội dung bản Cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trọng N đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của người bị hại, không có nội dung gì thay đổi, hành vi của bị cáo lén lút chiếm đoạt tài sản trị giá 12.000.000 đồng nên hành vi của bị cáo đã có đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị áp dụng khoản 1 điều 173; điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng N từ 09 đến 12 tháng tù. Phần bồi thường: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ tài sản và trả lại cho người bị hại, đến nay người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét. Về vật chứng của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo qui định của pháp luật. Bị cáo không có tranh luận gì với Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố và chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Lâm Đồng và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại nào về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Trọng N: Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, bị cáo biết rất rõ việc lợi dụng người bị hại để tài sản ngoài trời vào lúc chập tối nhưng không có người trông coi để lén lút chiếm đoạt với mục đích để đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân là hành vi trái pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. hành vi của bị cáo chiếm đoạt tài sản trị giá 12.000.000 đồng là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trái pháp luật đến quyền sở hữu tài sản của người khác và gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Trọng N đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Hành vi của bị cáo thực hiện trước ngày Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, căn cứ khoản 1 điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 lẽ ra phải áp dụng điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 đối với bị cáo nhưng do Bộ luật hình sự năm 2015 qui định mức hình phạt ở khung cao nhất của điều 173 chỉ 20 năm tù, trong khi điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 qui định mức hình phạt ở khung cao nhất đến Tù chung thân nên căn cứ khoản 3 điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, điều luật áp dụng để xét xử bị cáo cần áp dụng qui định tại điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết định khung hình phạt: Xét hành vi của bị cáo không vi phạm vào tình tiết định khung nào theo qui định tại điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 nên bị cáo chỉ bị xét xử theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Sau khi bị bắt, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt qui định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Chưa có căn cứ để kết luận đây là lần phạm tội đầu tiên của bị cáo nên không áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo qui định tại điểm i khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay, người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều vắng mặt và không ai có yêu cầu bồi thường gì nên không xem xét để giải quyết phần trách nhiệm dân sự đối với bị cáo trong bản án này.
Về xử lý vật chứng: Các loại vật chứng đã thu giữ trong quá trình điều tra vụ án gồm 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 49B1-638.92, Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu nên không xem xét để xử lý tiếp. Một biển số xe số 70E1-130.93 chưa rõ nguồn gốc, cần giao lại cho Công an thành phố Đ, Lâm Đồng để điều tra, xác minh và xử lý theo thẩm quyền. Riêng 01 thanh kim loại hình chữ L (đã bị gãy một đầu); 01 khóa 10 bằng kim loại và 02 chìa khóa xe mô tô, xét không có giá trị sử dụng nên tịch thu để tiêu hủy. Riêng 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1110i màu xanh trắng; 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu xanh và 800.000 đồng, không xác định được có liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] . Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
[2] . Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng N 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2017.
[3] . Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
+ Tịch thu để tiêu hủy: 01 thanh kim loại hình chữ L (đã bị gãy một đầu); 01 khóa 10 bằng kim loạivà 02 chìa khóa xe mô tô hiệu Yamaha và HonDa.
+ Giao lại cho Công an thành phố Đ, Lâm Đồng: 01 biển số xe số 70E1-130.93 để tiếp tục điều tra, xác minh nguồn gốc và xử lý theo thẩm quyền.
+ Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1110i màu xanh trắng; 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu xanh (đã qua sử dụng) và 800.000 (Tám trăm ngàn) đồng.
(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/3/2018 giữa Công an thành phố Đ và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ).
[4] . Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về lệ phí, án phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh Lâm Đồng; - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - VKSND thành phố Đ; - Công an thành phố Đ; - Thi hành án thành phố Đ; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Bộ phận theo dõi THA phạt tù; - Lưu. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Trình |