vanban.org

Bản án 60/2026/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Trị Tuyên án 25/08/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc L - Vận chuyển trái phép chất ma túy - vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự - Tịch thu tiêu hủy; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2026/HS-ST
Ngày: 25 - 8 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Từ Thị Hải Dương.

Thẩm phán thành viên: Ông Phan Hồng Phước

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hòe; Bà Trần Thị Minh Lệ và bà Phùng Thị Loan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Minh Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Năm - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2026, tại điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị và điểm cầu thành phần tại Tòa án nhân dân khu vực 5 – Quảng Trị, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị mở phiên tòa bằng hình thức trực tuyến để xét vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 60/2026/TLST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2026/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 14 tháng 6 năm 1972 tại tỉnh Hà Tĩnh; CCCD số: 042072018184 cấp ngày 25/01/2024; nơi ĐKNKTT: Thôn B, xã K, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q, và bà Phan Thị L1; có vợ là Hồ Thị Á, có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2008.

Tiền sự: Không;

Tiền án: 01 tiền án, cụ thể: Ngày 16/10/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, Quảng Trị (cũ) xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 23/01/2024.

Nhân thân:

- Ngày 15/9/1993, bị Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, Quảng Trị (cũ) xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản;

- Ngày 30/12/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, Quảng Trị (cũ) xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/10/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên toà.

Người tham gia tố tụng khác:

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc L: Luật sư Lê Thị Lâm P – Công ty L3; địa chỉ: số A đường T, phường N, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Ngọc Kiều L2, sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn B, xã K, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 11 giờ 20 phút, ngày 16/10/2025, tại thôn T, xã L, tỉnh Quảng Trị, Tổ công tác Đồn Biên phòng T phối hợp với các đơn vị chức năng phát hiện Nguyễn Ngọc L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 74H1-197.84 đang lưu thông trên đường tỉnh lộ 586 hướng từ xã L đến ngã ba T, xã L có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện ở hòm xe có 01 (một) bao tải gai màu xanh đỏ vàng, miệng bao được buộc lại, bên trong đựng 01 (một) bao nilon màu đen được quấn cố định bằng nhiều lớp băng keo màu đen, bên trong có 03 vật dạng hình hộp chữ nhật kích thước mỗi hộp (22x12,5x5) cm, bên trong mỗi hộp có 03 gói giấy màu trắng, mặt ngoài ký hiệu “A”, bên trong mỗi gói chứa 08 túi ni lông màu xanh và 02 túi ni lông màu hồng, tổng cộng có 72 túi ni lông màu xanh và 18 túi ni lông màu hồng, bên trong các túi ni lông đều chứa các viên nén màu hồng, xanh hình trụ tròn, Nguyễn Ngọc L khai nhận các viên nén trên là ma túy tổng hợp hồng phiến. Cơ quan chức năng tiến bắt quả tang đối với Nguyễn Ngọc L về hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy.

Về nguồn gốc số ma túy, Nguyễn Ngọc L khai nhận: Khoảng tháng 07/2025, có một người đàn ông không rõ lai lịch, sử dụng số điện thoại 0795385793, gọi đến số điện thoại 0378707234 của L, đặt vấn đề khi có hàng hóa sẽ liên hệ thuê L vận chuyển, người này không nói cụ thể loại hàng hóa gì nhưng vì muốn nhận tiền công nên L đồng ý và lưu số điện thoại của người này vào danh bạ điện thoại tên là “Ong Ke 117". Khoảng 10 giờ ngày 16/10/2025, người đàn ông sử dụng số điện thoại 0795385793 nói trên gọi điện cho L hỏi “Đang ở đâu?", L trả lời “Đang ăn sáng", người này nói tiếp “Xiều đi vô Lia chờ đồ ra ngã ba T, miềng trả cho 700.000 đồng". Lân trả lời "Gỗ lạt nặng nhọc không chở mô", người đàn ông đó nói “Mô, cục nhỏ gọn thôi, khi đi đến ngã ba T hoặc nhà máy sắn miềng điện lại”. L đồng ý và nói “ăn xong đi chừ đây". Sau đó, L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 74H1-197.84 đi đến trước nhà máy S trên Tỉnh lộ 586 rồi gọi điện báo cho người đàn ông này biết. Một lúc sau, có một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) đi xe mô tô loại Wave, không mang biển kiểm soát đến gặp L và nói "Đi vào đường L đến chỗ bên phải đường có cây Bằng lăng to thì dừng lại có người đưa hàng cho. Theo hướng dẫn, L tiếp tục điều khiển xe đi tiếp thấy có cây bằng lăng to nên đứng đợi. Khoảng 03 phút sau, có một nam thanh niên đeo khẩu trang, mặc áo mưa, hai tay xách một bao tải gai màu xanh-đỏ-vàng, miệng bao được buộc thắt nút đi đến đến đặt ở giá để đồ phía trước yên xe mô tô của L rồi rời đi, L không kiểm tra nhưng L nghĩ bên trong bao gai là ma túy vì bản thân có sử dụng ma tuý, đã từng bị kết án về tội mua bán trái phép chất ma tuý và địa bàn này có nhiều người mua bán, vận chuyển ma tuý. Sau đó, L điều khiển xe mô tô quay lại hướng đi ra ngã ba T để giao bao tải này cho người khác, khi đến đoạn đường đất là đường tránh một cây cầu đang xây dựng trên Tỉnh lộ 586, thuộc thôn T, xã L, tỉnh Quảng Trị thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang.

* Thu giữ đồ vật, tài liệu:

01/ Các viên nén màu hồng, màu xanh hình trụ tròn, nghi là ma túy (được niêm trong thùng giấy ký hiệu MT).

02/ 01 (một) bao tải gai màu xanh đỏ vàng, kích thước: (53 x 43)cm; 01 (một) bao nilon màu đen bên ngoài được quấn cố định bằng nhiều lớp băng keo màu đen, kích thước: (20 x 13 x 13)cm; 03 (ba) vật dạng hình hộp chữ nhật, kích thước mỗi vật: (22 x 12,5 x 05)cm, bên ngoài được bọc bằng một lớp nilon trong suốt, tiếp đến là lớp giấy chống ẩm màu vàng trắng, mặt ngoài ký hiệu chữ và số: Y A999 1 màu xanh, mặt trong dính vào nhiều lớp băng keo; 03 (ba) bao nilon trong suốt, kích thước mỗi bao: (28,5 x 15)cm; 09 (chín) bao nilon trong suốt, kích thước mỗi bao nilon: (19 x 10)cm; 09 tờ giấy màu trắng, mặt ngoài ký hiệu chữ A màu xanh; 72 túi nilon màu xanh, phần miệng của mỗi túi có một viền ngang màu đỏ, kích thước mỗi túi (09 x 6,5)cm; 18 túi nilon màu hồng, mặt ngoài mỗi túi có ký hiệu chữ A màu trắng, kích thước mỗi túi: (09 x 6,5)cm; 63 dây cao su màu đỏ (được niêm phong ký hiệu từ A1 đến A8).

03/ 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, vỏ máy màu đen, nhãn hiệu iPhone, số sê-ri: F4GZD4FON72J, bên trong khe sim có một thẻ sim ký hiệu: 4G Viettel 8984048000916267815, đã qua sử dụng.

04/ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Exciter, màu sơn đen đỏ, gắn biển kiểm soát 74H1-197.84, số khung: RLCUG0610JY664444, số máy: G3D4E-691971, đã qua sử dụng.

Tại bản Kết luận giám định số 1487/KL-KTHS, ngày 20/10/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận:

- Các viên nén màu hồng, được niêm phong trong hộp giấy niêm phong ký hiệu MT gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng là 1.827,86 gam.

- Các viên nén màu xanh, được niêm phong trong hộp giấy niêm phong ký hiệu MT gửi đến giám định có khối lượng là 18,61g, không tìm thấy chất ma tuý.

Methamphetamnine nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 247, Danh mục IIC, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.

Tại bản Kết luận giám định số 1488/KL-KTHS, ngày 19/10/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q về giám định đường vân đối với các vật chứng đã tạm giữ, kết luận:

Không phát hiện thấy dấu vết đường vân trên các mẫu gửi giám định ký hiệu A1, A2, A3, A5, A8.

- Phát hiện có các dấu vết đường vân trên bề mặt các mẫu gửi giám định ký hiệu A4, A6, A7, nhưng các dấu vết đường vân phát hiện được bị mờ nhoè, trượt xước, có đặc điểm riêng ít nên không đủ yếu tố giám định.

Ngày 26/11/2025, Phòng K Công an tỉnh Q có bản Kết luận giám định 1638/KL-KTHS về việc giám định kỹ thuật số và điện tử đối với vật chứng là điện thoại, thẻ sim đã tạm giữ: có dữ liệu kèm theo.

Cáo trạng số 92/CT-VKSQT-P1 ngày 06/8/2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc L về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 4 Điều 250, các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 39 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo tù chung thân. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy ma túy thu giữ kèm bao gói sau giám định, tịch thu sung công điện thoại của bị cáo. Xe mô tô trả lại cho bà Nguyễn Ngọc Kiều L2. Buộc bị cáo chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đều hợp pháp.

. Về tội danh và hình phạt: Ngày 16/10/2025, Nguyễn Ngọc L đang vận chuyển ma túy cho một người đàn ông không rõ lai lịch để giao cho một người khác thì bị lực lượng chức năng bắt giữ. Theo kết luận giám định số 1487/KL-KTHS, ngày 20/10/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q thì ma túy Nguyễn Ngọc L vận chuyển có khối lượng 1.827,86 gam loại Methamphetamine. Số ma túy trên bị cáo khai vận chuyển thuê cho người đàn ông không rõ lai lịch để lấy tiền công. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc L đã phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy được quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng số 92/CT-VKSQT-P1 ngày 06/8/2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo theo điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn cần xử lý nghiêm khắc.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố bị cáo được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Tuy nhiên, bị cáo có một tiền án về ma túy, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội. Do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm nguy hiểm quy định tài điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Xét thấy lượng ma túy bị cáo vận chuyển là tương đối lớn, phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội không thời hạn theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa tội phạm.

. Về một số đối tượng liên quan:

- Đối với người đàn ông sử dụng số điện thoại 0795385793 theo lời khai của Nguyễn Ngọc L là người thuê vận chuyển ma túy: Người đăng ký số điện thoại 0795385793 là ông Hồ Văn X, sinh ngày 10/8/2004, trú tại thôn M, xã H, tỉnh Quảng Trị, quá trình làm việc Hồ Văn X khai nhận không đăng ký sử dụng số điện thoại trên, không quen biết Nguyễn Ngọc L; cơ quan điều tra đã cho Nguyễn Ngọc L nhận dạng nhưng không xác định được nên không có cơ sở để xử lý.

- Đối với người đàn ông hướng dẫn Nguyễn Ngọc L đến địa điểm nhận ma túy và người nam thanh niên giao ma túy cho L, do không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở để điều tra làm rõ.

. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Vật chứng là ma tuý và các vật không có giá trị sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu tiêu huỷ.

- Điện thoại di động bị cáo sử dụng để liên lạc vận chuyển ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Qua điều tra xác định xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Exciter mà bị cáo L sử dụng thực hiện hành vi phạm tội là của bà Nguyễn Ngọc Kiều L2 (con gái của bị cáo). Tuy nhiên bà L2 không biết bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bà L2:

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc L phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

- Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 250, Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 39 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc L tù chung thân, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 16/10/2025.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

- Tịch thu tiêu hủy:

+ Các viên nén màu hồng, màu xanh hình trụ tròn. Sau giám định, được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu PS1 1904148.

+ 01 (một) bao tải gai màu xanh đỏ vàng, kích thước: (53 x 43) cm ; 01 (một) bao nilon màu đen bên ngoài được quấn cố định bằng nhiều băng keo màu đen, kích thước: (20 x13 x 13) cm; 03 (ba) vật dạng hình hộp chữ nhật, kích thước mỗi vật (22 x12,5 x 05) cm, bên ngoài được bọc bằng một lớp nilon trong suốt, tiếp đến là lớp giấy chống ẩm màu vàng trắng, mặt ngoài ký hiệu chữ và số: Y A999 1 màu xanh, mặt trong dính vào nhiều lớp băng keo; 03 (ba) bao nilon trong suốt, kích thước mỗi bao: ( 28 ,5 x 15)cm ; 09 (chín) bao nilon trong suốt, kích thước mỗi bao nilon: (19 x 10) cm; 09 (chín) tờ giấy màu trắng, mặt ngoài ký hiệu chữ A màu xanh; 72 (bảy mươi hai) túi nilon màu xanh, phần miệng của mỗi túi có một viền ngang màu đỏ, kích thước mỗi túi ( 9 x 6,5) cm; 18 (mười tám) túi nilon màu hồng, mặt ngoài mỗi túi có ký hiệu chữ A màu trắng, kích thước mỗi túi (9 x6,5) cm; 63 (sáu mươi ba) dây cao su màu đỏ. Sau giám định, tất cả được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu BGKL1488.

- Trả lại cho bà Nguyễn Ngọc Kiều L2: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Exciter, màu sơn đen đỏ, gắn biển kiểm soát 74H1-197.84, số khung: RLCUG0610JY664444, số máy: G3D4E-691971, đã qua sử dụng.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng, vỏ máy màu đen, nhãn hiệu iPhone, số sê-ri: F4GZD4FON72J, bên trong khe sim có một thẻ sim ký hiệu: 4G Viettel 8984048000916267815, đã qua sử dụng. Sau giám định, được niêm phong trong bì ký hiệu DTL.

Các vật chứng trên hiện được bảo quản tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử buộc bị cáo Nguyễn Ngọc L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ