vanban.org

Bản án 60/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Bùi Linh . Về con chung: Giao con chung Bùi Thị Yến V, sinh ngày 14/02/2009 và Bùi Anh K, sinh ngày 17/02/2011 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành (đủ 18 tuổi). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị L ly hôn anh Bùi L"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 60/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 21/7/2026
“Về việc: Ly hôn,
tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Vân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Tịnh và bà Nguyễn Thị Bích Thủy.

Thư ký phiên toà: Ông Lý Khởi Vinh - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 8 - Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Lại Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 8 - Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 147/2026/TLST-HNGĐ, ngày 28 tháng 4 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2026/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Lâm Đồng, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1990.

Số CCCD: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 28/06/2021; nơi cấp: Cục Cảnh sát; Địa chỉ hiện nay: Thôn T, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng (Có mặt)

2. Bị đơn: Anh Bùi L1, sinh năm 1985.

Số CCCD: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 05/07/2021; nơi cấp: Cục Cảnh sát;

Địa chỉ hiện nay: Thôn T, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 16/3/2026, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày: NMY210726.TL.QDBA.1412 Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Bùi L1 đăng ký kết hôn vào ngày 04/11/2008, tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (nay là xã Đ, tỉnh Lâm Đồng). Chị L và anh L1 kết hôn hoàn toàn tự nguyện. Thời gian đầu cuộc sống hôn nhân giữa chị L và anh L1 hạnh phúc. Tuy nhiên cuộc sống vợ chồng ngày càng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do quan điểm sống không hợp nhau, không có tiếng nói chung trong việc làm ăn kinh tế và nuôi dạy con cái, vợ chồng không có sự chia sẻ, quan tâm nhau. Tình trạng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn với nhau được nữa, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện nay chị L không còn tình cảm với anh L1 nữa nên chị L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Bùi Linh .

Về con chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Bùi L1 có 03 con chung là Bùi Thị Ngọc L2, sinh ngày 16/03/2007; Bùi Thị Yến V, sinh ngày 14/02/2009 và Bùi Anh K, sinh ngày 17/02/2011. Con chung Bùi Thị Ngọc L2 đã trưởng thành (trên 18 tuổi) nên chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị L có nguyện vọng nuôi con chung Bùi Thị Yến V và Bùi Anh K đến trưởng thành (đủ 18 tuổi) và không yêu cầu anh Bùi L1 cấp dưỡng nuôi các con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Lâm Đồng đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đối với bị đơn anh Bùi Linh . Tuy nhiên bị đơn anh Bùi L1 không có mặt theo giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải; thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và phiên tòa lần thứ nhất; tại phiên tòa lần thứ hai bị đơn anh Bùi L1 vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Lâm Đồng tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Bùi L1 theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Lâm Đồng có quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và nội dung vụ án:

- Về tố tụng:

+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

+ Về người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L đã nghiêm túc thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình được BLTTDS và các văn bản liên quan quy định. Bị đơn anh Bùi L1 chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố NMY210726.TL.QDBA.1412 tụng quy định tại Điều 70 và Điều 72 BLTTDS, tuy nhiên Thẩm phán đã tiến hành lập biên bản và làm các thủ tục đúng theo quy định của pháp luật nên về hình thức tố tụng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – Lâm Đồng xét thấy đảm bảo đầy đủ và hợp pháp.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L về việc xin ly hôn với anh Bùi Linh .

Về con chung: Con chung Bùi Thị Ngọc L2, sinh ngày 16/03/2007 đã trưởng thành (trên 18 tuổi) nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết. Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung Bùi Thị Yến V, sinh ngày 14/02/2009 và Bùi Anh K, sinh ngày 17/02/2011 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành (đủ 18 tuổi). Chị Nguyễn Thị L không yêu cầu anh Bùi L1 cấp dưỡng nuôi các con chung nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc nguyên đơn chị Nguyễn Thị L chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về tố tụng: Thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L yêu cầu Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Lâm Đồng giải quyết việc ly hôn và tranh chấp nuôi con chung với bị đơn anh Bùi L1; anh Bùi L1 có nơi cư trú tại thôn T, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Lâm Đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Về chấp hành pháp luật của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tống đạt hợp lệ đúng theo quy định tại Điều 173 của Bộ luật Tố tụng dân sự để thông báo thụ lý vụ án, triệu tập đương sự và các văn bản tố tụng khác cho đương sự. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Bùi L1 không tham gia theo thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và vắng mặt tại các phiên tòa không có lý do. Do đó, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Bùi L1 theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc bị đơn anh Bùi L1 không chấp hành pháp luật được coi tự ý từ bỏ quyền được tham gia tố tụng, quyền tự NMY210726.TL.QDBA.1412 bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình quy định tại Điều 6, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Bùi L1 đăng ký kết hôn vào ngày 04/11/2008, tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (nay là xã Đ, tỉnh Lâm Đồng), việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc. Đây là hôn nhân hợp pháp, kết hôn đúng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị L, năm 2008 chị L và anh L1 kết hôn, tuy nhiên trong cuộc sống hôn nhân vợ chồng giữa chị L và anh L1 chỉ hạnh phúc được một thời gian, sau đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nên tình cảm vợ chồng không còn, không có sự quan tâm, yêu thương, chăm sóc nhau, mục đích hôn nhân không đạt được.

Trong quan hệ hôn nhân phải dựa trên tình cảm, tình yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc trong gia đình. Tuy nhiên chị L không còn tình cảm đối với anh L1, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị L là có cơ sở nên cần chấp nhận.

Về con chung: Quá trình chung sống chị Nguyễn Thị L và anh Bùi L1 có 03 con chung là Bùi Thị Ngọc L2, sinh ngày 16/03/2007; Bùi Thị Yến V, sinh ngày 14/02/2009 và Bùi Anh K, sinh ngày 17/02/2011.

Hiện nay con chung Bùi Thị Ngọc L2, sinh ngày 16/03/2007 đã trưởng thành (trên 18 tuổi) nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Đối với con chung Bùi Thị Yến V, sinh ngày 14/02/2009 và Bùi Anh K, sinh ngày 17/02/2011 đang được chị L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tại địa chỉ thôn T, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng. Chị L có nguyện vọng nuôi con chung Bùi Thị Yến V và Bùi Anh K đến trưởng thành (đủ 18 tuổi) và không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi các con chung. Các con chung Bùi Thị Yến V và Bùi Anh K đều có nguyện vọng được ở với mẹ là chị Nguyễn Thị L. Do đó Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao con chung Bùi Thị Yến V, sinh ngày 14/02/2009 và Bùi Anh K, sinh ngày 17/02/2011 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành (đủ 18 tuổi) là phù hợp với nguyện vọng của cháu V và cháu K, đồng thời đảm bảo cho việc học tập cũng như phát triển toàn diện của con chung.

Chị Nguyễn Thị L không yêu cầu anh Bùi L1 cấp dưỡng nuôi các con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. NMY210726.TL.QDBA.1412

Anh Bùi L1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom các con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 - Lâm Đồng kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và phát biểu quan điểm về đường lối xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật. [5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí ly hôn sơ thẩm. [6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 143; Điều 147; Điều 227; Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 19; 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83; 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Bùi Linh .

2. Về con chung: Giao con chung Bùi Thị Yến V, sinh ngày 14/02/2009 và Bùi Anh K, sinh ngày 17/02/2011 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Chị Nguyễn Thị L không yêu cầu anh Bùi L1 cấp dưỡng nuôi các con chung.

Anh Bùi L1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom các con chung mà không ai được cản trở.

Sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị L và anh Bùi L1 có các quyền và nghĩa vụ sau:

Quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.

Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. NMY210726.TL.QDBA.1412

Quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Buộc chị Nguyễn Thị L phải chịu toàn bộ, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0007697 ngày 24/04/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng (Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 8 - Lâm Đồng).

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ