- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Yến N - Phạm Trường G"
- Tòa quyết gì? 1 - Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Phạm Thị Yến N với ông Phạm Trường G.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2026/HNGĐ-ST Ngày: 06-4-2026 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Linh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Việt Hồng
2. Ông Phạm Đức Hoài
- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Điền - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7
- An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - An Giang tham gia phiên tòa: Không.
Ngày 06 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 91/2026/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2026 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/3/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Yến N, sinh năm 1968
2. Bị đơn: Ông Phạm Trường G, sinh năm 1968
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã A, tỉnh An Giang
(Các đương sự có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn bà Phạm Thị Yến N với bị đơn ông Phạm Trường G đã thống nhất xác định những nội dung cụ thể như sau:
Bà Phạm Thị Yến N và ông Phạm Trường G chung sống với nhau từ năm 1994 đến nay không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống hạnh phúc được khoảng hơn 20 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên thường xuyên xảy ra cãi nhau, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể khắc phục được nên đã ly thân nhau từ năm 2024 đến nay.
Về quan hệ con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Phạm Thị Thanh T, sinh năm 1996 và Phạm Huỳnh H, sinh năm 1998.
Về quan hệ tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận.
Về quan hệ nợ chung: Vợ chồng không nợ chung tài sản gì đối với ai khác cũng không ai nợ vợ chồng.
Nay nguyên đơn bà Phạm Thị Yến N với bị đơn ông Phạm Trường G thống nhất thỏa thuận:
1. Về quan hệ hôn nhân: Thuận tình ly hôn nhau, nhưng do ông bà từ trước đến nay chưa đăng ký kết hôn và cũng chưa được cơ quan chuyên môn nào cấp giấy chứng nhận kết hôn nên không thể ghi nhận;
2. Về quan hệ nuôi con chung: Hiện các con Phạm Thị Thanh T, sinh năm 1996 và Phạm Huỳnh H, sinh năm 1998 đã thành niên và tự lao động, sinh sống được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết;
3. Về quan hệ tài sản chung: Vợ chồng tự thoả thuận, không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết;
4. Về quan hệ nợ chung: Vợ chồng không nợ chung tài sản gì đối với ai khác cũng không ai nợ vợ chồng, không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa: Các đương sự vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Phạm Thị Yến N và bị đơn ông Phạm Trường G đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Hơn nữa bà N và ông G cũng đều có đơn xin xét xử vắng mặt. HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bà N và ông G.
Về nội dung: Nguyên đơn bà Phạm Thị Yến N và bị đơn ông Phạm Trường G thống nhất vợ chồng từ khi sống chung với nhau đến nay không đăng ký kết hôn, về con chung, về tài sản chung, về nợ. Theo Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, HĐXX khẳng định đây là sự thật.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Yến N và ông Phạm Trường G chung sống với nhau từ năm 1994, nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền (UBND xã). Như vậy là vi phạm quy định về đăng ký kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986. Đến khi có Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (có hiệu lực ngày 01-01-2001), các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có nhiều văn bản quy định, hướng dẫn việc đăng ký kết hôn đối với những trường hợp như ông, bà trong thời gian hai năm (từ ngày 01-01-2001 đến ngày 01-01-2003) nhưng ông, bà vẫn không thực hiện. Cho đến khi có Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 (có hiệu lực ngày 01-01-2015) và thực tế từ khi có đơn yêu cầu xin ly hôn của bà N và cho đến nay ông, bà vẫn không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do đó, nay bà N có yêu cầu ly hôn, thì theo quy định tại khoản 1 Điều 14, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tòa án sẽ quyết định bằng bản án tuyên bố không công nhận hai người là vợ chồng.
Về quan hệ nuôi con chung: Hai bên đương sự cùng nhau thống nhất xác định, vợ chồng có 02 con chung tên Phạm Thị Thanh T, sinh năm 1996 và Phạm Huỳnh H, sinh năm 1998. Hiện nay các con đã thành niên và tự lao động, sinh sống được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy HĐXX không xem xét.
Về quan hệ tài sản chung và quan hệ nợ chung: Giữa nguyên đơn bà Phạm Thị Yến N với bị đơn ông Phạm Trường G cùng thống nhất xác định, vợ chồng tự thoả thuận tài sản chung, không nợ chung tài sản gì đối với ai khác cũng không ai nợ vợ chồng, không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn bà Phạm Thị Yến N có đơn yêu cầu xin ly hôn nên bà N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 91, Điều 92, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015,
Áp dụng khoản 1 Điều 14, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1 - Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Phạm Thị Yến N với ông Phạm Trường G.
2 - Về quan hệ nuôi con chung: Các đương sự không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
3 - Về quan hệ tài sản chung và về quan hệ nợ chung: Các đương sự không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
4 - Về án phí: Nguyên đơn bà Phạm Thị Yến N có đơn yêu cầu xin ly hôn nên bà N phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 301732 ngày 26/02/2026 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 - An Giang; bà N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh; - VKS KV7, tỉnh; - Các Đ/s; - Phòng THADS KV7; - UBND xã An Minh; - Lưu (HSVA, VPTA). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Mỹ Linh |