- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "L - S"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị Thùy Linh được ly hôn anh Nguyễn Hữu Sáng.
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2026/HNGĐ-ST Ngày: 05/6/2026 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Lệ Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Gia Phượng;
Ông Nguyễn Ngọc Tâm.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Phương Thúy - Kiểm sát viên.
-Ngày 05 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 185/2026/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2026 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 82/2026/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Thùy Linh, sinh năm 1998 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu 12 Cao Xá, xã Bản Nguyên, tỉnh Phú Thọ.
Nơi ở hiện tại: Số nhà 05, khu 4 Phong Châu, xã Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ
Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu Sáng, sinh năm 1990 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu 12 Cao Xá, xã Bản Nguyên, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 02/6/2026, nguyên đơn chị Đỗ Thị Thùy Linh trình bày: Chị và anh Nguyễn Hữu Sáng kết hôn ngày 15/11/2016, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Cao Xá, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ (nay là: UBND xã Bản Nguyên, tỉnh Phú Thọ). Trước khi kết hôn có được tìm hiểu tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chị về chung sống cùng gia đình anh Sáng tại xã Cao Xá, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Hai vợ chồng chung sống hoà thuận với nhau được 04 năm thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và đã ly thân được 05 năm, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Sáng.
Vợ chồng chị có 02 con chung là Nguyễn Đăng Khoa, sinh ngày 28/10/2016 và Nguyễn Hải Đăng, sinh ngày 27/7/2018. Hiện con chung đang sống cùng anh Sáng và mẹ đẻ anh Sáng (bà Đỗ Thị Ngọc). Khi ly hôn chị đề nghị Toà án giao cả hai con cho anh Sáng trực tiếp nuôi dưỡng và chị cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Sáng 2.100.000đ/cháu/tháng, phương thức cấp dưỡng hàng tháng.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Chị thừa nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Hữu Sáng: Mặc dù đã được toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh Sáng không đến Toà án làm việc nên không ghi nhận được quan điểm của anh Sáng về yêu cầu khởi kiện của chị Linh.
Tòa án đã lấy lời khai bà Đỗ Thị Ngọc – mẹ anh Sáng được bà Ngọc cho biết: Chị Linh và anh Sáng đã kết hôn ngày 15/11/2016, đăng ký kết hôn tại UBND xã Cao Xá, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ (nay là xã Bản Nguyên, tỉnh Phú Thọ), do hai bên tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng Sáng Linh về chung sống tại nhà bà tại khu 12, xã Cao Xá, tình cảm vợ chồng hòa thuận hạnh phúc. Từ năm 2019, anh Sáng đi làm ăn, thường cuối tuần hoặc cuối tháng mới về nhà thăm vợ con, gia đình. Từ cuối năm 2020, chị Linh đã ra ngoài làm ăn, để hai con cho bà chăm sóc. Từ đó bà thấy anh chị có mâu thuẫn, không có tiếng nói chung. Sau khi chị Linh ra ngoài làm ăn, chị Linh cũng ít về thăm con. Anh Sáng vẫn thường xuyên liên lạc với bà, cung cấp kinh tế để nuôi con, nhưng mỗi tháng chỉ ở nhà 1- 2 hôm. Sau khi nhận được thông báo thụ lý và giấy triệu tập của Tòa án gửi cho anh Sáng, bà đã thông báo ngay cho Sáng biết. Qua trao đổi, anh Sáng đồng ý ly hôn và đề nghị giải quyết vắng mặt vì anh không thể đến tòa án làm việc được do công việc rất bận. Nay bà thấy anh chị đã ly thân lâu rồi, chị Linh xin ly hôn và cũng là nguyện vọng của anh Sáng, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Vợ chồng anh Sáng, chị Linh có hai con chung là Nguyễn Đăng Khoa, sinh ngày 28/10/2016, Nguyễn Hải Đăng, sinh ngày 27/7/2018. Các cháu hiện sống cùng bà và anh Sáng. Khi anh chị ly hôn, anh Sáng có nói với bà là xin được nuôi hai con, yêu cầu chị Linh cấp dưỡng nuôi con theo quy định. Bản thân bà có sức khỏe và xin đảm bảo chăm sóc tốt cho 2 cháu mỗi khi anh Sáng vắng nhà. Vợ chồng anh sáng chị Linh không có tài sản chung, không có nợ chung. Chị Linh không có công sức làm dâu gia đình tôi nên không đề nghị giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương, được chính quyền địa phương cung cấp: Chị Linh và anh Sáng đều có địa chỉ tại khu 12 Cao Xá, xã Bản Nguyên, tỉnh Phú Thọ. Anh Sáng là con trai bà Đỗ Thị Ngọc, làm nghề tự do, không thường xuyên có mặt tại nhà vào giờ hành chính. Vợ chồng anh Sáng, chị Linh chưa bao giờ báo cáo đề nghị giải quyết việc gia đình nên khu dân cư không biết có mâu thuẫn không. Qua dư luận khu dân cư được biết, vợ chồng chị Linh, anh Sáng mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và đã ly thân từ cuối năm 2020. Về con chung: Vợ chồng chị Linh, anh Sáng có hai con chung là Nguyễn Đăng Khoa, sinh ngày 28/10/2016, Nguyễn Hải Đăng, sinh ngày 27/7/2018. Các cháu hiện sống cùng anh Sáng và bà Ngọc. Nay chị Linh xin ly hôn, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 Phú Thọ phát biểu quan điểm:
- Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên toà Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không có mặt tại Toà án mặc dù đã được triệu tập hợp lệ.
- Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Thuỷ Linh, xử:
+ Về quan hệ hôn nhân: cho chị Đỗ Thị Thùy Linh được ly hôn anh Nguyễn Hữu Sáng.
+ Về con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Đăng Khoa, sinh ngày 28/10/2016, Nguyễn Hải Đăng, sinh ngày 27/7/2018 cho anh Sáng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung thành niên.
Ghi nhận sự tự nguyện của chị Linh về việc: Chị Đỗ Thị Thùy Linh cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Sáng số tiền 2.100.000đ/cháu/tháng, hai cháu là 4.200.000đ/tháng cho đến khi con chung thành niên, phương thức cấp dưỡng hàng tháng.
+ Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Không xem xét giải quyết trong vụ án này.
+ Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét toàn diện các tài liệu, chứng cứ, lời trình bày của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình. Bị đơn anh Nguyễn Hữu Sáng có nơi cư trú tại khu 12 Cao Xá, xã Bản Nguyên, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân khu vực 2 - Phú Thọ thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
- Về sự vắng mặt của đương sự: Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Sáng nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Sáng không đến Tòa án làm việc vì vậy Thẩm phán chỉ tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải được. Tại phiên toà hôm nay, bị đơn anh Sáng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, chị Linh có đơn xin xét xử vắng mặt, nên căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là chị Linh và anh Sáng.
. Về nội dung vụ án:
Hôn nhân giữa chị Linh và anh Sáng là hôn nhân hợp pháp, hai bên kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 15/11/2016 tại Ủy ban nhân dân xã Cao Xá, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ (nay là UBND xã Bản Nguyên, tỉnh Phú Thọ). Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị sống cùng gia đình anh Sáng tại khu 12, xã Cao Xá, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Lời trình bày của chị Linh, bà Ngọc và chứng cứ thu thập, xác minh tại khu dân cư xác định: Trong cuộc sống hôn nhân chị Linh, anh Sáng đã mâu thuẫn do bất đồng quan điển, vợ chồng đã ly thân từ cuối năm 2020. Bà Ngọc thừa nhận qua trao đổi với bà, anh Sáng cũng đồng ý ly hôn chị Linh. Tòa án đã triệu tập anh Sáng đến làm việc nhiều lần nhưng anh Sáng cố tình vắng mặt. Điều đó chứng tỏ cuộc hôn nhân giữa chị Linh và anh Sáng đã mâu thuẫn trầm trọng trong thời gian dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị Linh được ly hôn anh Sáng là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
. Về con chung: Chị Linh và anh Sáng có 02 con chung là Nguyễn Đăng Khoa, sinh ngày 28/10/2016, Nguyễn Hải Đăng, sinh ngày 27/7/2018 Các cháu hiện sống cùng anh Sáng và bà Đỗ Thị Ngọc – mẹ anh Sáng. Khi ly hôn, chị Linh đề nghị giao 02 con cho anh Sáng trực tiếp nuôi dưỡng và chị đồng ý cấp dưỡng 2.100.000đ/cháu/tháng. Anh Sáng vắng mặt nên không có quan điểm về việc nuôi con. Tuy nhiên, bà Đỗ Thị Ngọc cho biết, qua trao đổi, anh Sáng đồng ý nuôi hai con chung. Bà đảm bảo chăm sóc tốt cho 2 cháu mỗi khi anh Sáng vắng nhà. Hội đồng xét xử nhận thấy: Con chung của anh chị hiện đang sống với anh Sáng và mẹ anh Sáng. Kể từ khi vợ chồng ly thân năm 2020, Anh Sáng và bà Ngọc là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu. Bản thân chị Linh cũng tự nguyện giao hai con cho anh Sáng nuôi dưỡng và đồng ý cấp dưỡng nuôi con. Mặt khác, tại Bản tự khai, cháu Khoa và cháu Đăng cũng có nguyện vọng nếu bố mẹ ly hôn thì các cháu xin được ở với bố. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung dưới 18 tuổi và không làm thay đổi môi trường sinh hoạt đã ổn định của các cháu nên giao hai con chung của anh chị cho anh Sáng được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Linh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con cùng anh Sáng là 2.100.000đ/cháu/tháng, hai cháu là 4.200.000đ/tháng, cho đến khi con chung thành niên. Anh Sáng không có mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay. Nhưng thông qua bà Ngọc anh có quan điểm đề nghị chị Linh cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Xét thấy, việc cấp dưỡng nuôi con chung là trách nhiệm của người không trực tiếp nuôi con chung nhằm mục đích đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho con chung khi bố mẹ ly hôn và cũng để giảm bớt khó khăn về kinh tế cho người trực tiếp nuôi con chung. Do đó, cần chấp nhận sự tự nguyện của chị Linh về cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Sáng 4.200.000đ/tháng là phù hợp. Sau khi ly hôn, chị Linh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Chị Linh trình bày vợ chồng anh chị không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu tòa án giải quyết. Anh Sáng vắng mặt, không có quan điểm về vấn đề này, nên HĐXX không xem xét giải quyết trong vụ án này mà trường hợp có yêu cầu của đương sự thì Toà án sẽ xem xét giải quyết bằng một vụ án khác.
Về án phí: Chị Linh phải chịu án phí HNGĐ sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Anh Sáng phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 điều 147; Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 116, Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a Khoản 5, điểm a Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị Thùy Linh được ly hôn anh Nguyễn Hữu Sáng.
Về con chung: Giao 02 con chung là Nguyễn Đăng Khoa, sinh ngày 28/10/2016 và Nguyễn Hải Đăng, sinh ngày 27/7/2018 cho anh Nguyễn Hữu Sáng trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên. Chị Đỗ Thị Thùy Linh có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng anh Sáng là 2.1000.000đ/cháu/tháng, hai cháu là 4.200.000đ/tháng, kể từ tháng 6/2026 cho đến khi từng con chung thành niên, phương thức cấp dưỡng hàng tháng. Chị Linh có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung, công nợ chung: Không xem xét trong vụ án này.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.
Về án phí : Chị Đỗ Thị Thùy Linh phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí HNGĐ sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001639 ngày 06/3/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Chị Đỗ Thị Thùy Linh đã nộp đủ án phí.
Anh Nguyễn Hữu sáng phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 2 - Phú Thọ; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - Phòng GĐ,KT,TT vàTHA TAND tỉnh PT; - THADS tỉnh Phú Thọ; - UBND phường Phú Thọ; - Đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. . | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Lệ Thanh |