- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo; 3.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2025/HSST Ngày: 31/07/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2-HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị T Phương
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị T Loan
Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan
Thư ký bản ghi biên phiên toà: Bà Đào Thị Tuyền - Thư ký Tòa án nhân khu vực 2 Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 07 năm 2025, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân khu vực 2- Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2025/TLST- HS ngày 10 tháng 07 năm 2025 đối với bị cáo:
Bị cáo: Họ và tên Nguyễn Văn D, Sinh năm 1982; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Nơi thường trú: Chưa đăng ký thường trú. Nơi ở hiện nay: Số 1x phố N, phường V, quận Đ, Hà Nội. ( nay là Số 1x phố N, phường V, thành phố Hà Nội) Nghề nghiệp: Tự do; Trình hộ học vấn: Không biết chữ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không. Tham gia đảng phái, đoàn thể: Không. Con ông: Không rõ. Con bà: Không rõ. Anh, chị, em ruột: Không rõ. Vợ: Nguyễn Thị H (sinh năm 1981 - Chưa đăng ký kết hôn). Con: Có 02 con; Lớn sinh năm 2017, nhỏ 2018. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 28/01/2005, bị Tòà án nhân dân quận H xử 03 năm tù về tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia. (Đã nộp án phí; Đã được xóa án tích).
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ và tạm giam từ ngày 29/4/2025; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội. (có mặt tại phiên tòa)
Bị hại: Công ty Cổ phần D; địa chỉ: Tòa Văn phòng S, đường C, khu đô thị V, phường P, quận L, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T - chức vụ: Tổng giám đôc. Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Đức G, sinh năm 1987- Nhân viên công ty. (vắng mặt tại phiên tòa)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trần Nhật T, sinh năm 2003; nơi ĐKHKTT: thôn V, xã Y, huyện Y, tỉnh Nam Định; chỗ ở: ngõ 1xx Y, quận C, thành phố Hà Nội. (vắng mặt tại phiên tòa)
- Anh Trần Văn H, sinh năm 1991; nơi ĐKHKTT: khu 1x xã N, huyện T, tỉnh Phú Thọ; chỗ ở: ngõ 7x ngách 3x A, phường Y, quận T, thành phố Hà Nội. (vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bản thân đang gặp khó khăn về kinh tế không thể tự mua được xe máy để đi làm nên khoảng 03 giờ 30 phút ngày 29/4/2025, sau khi hoàn thành xong công việc quét rác thuê tại khu vực phố H, phường H, quận H, Hà Nội, Nguyễn Văn D (sinh năm 1982; Trú tại số nhà 1x phố N, phường V, quận Đ, Hà Nội) đi bộ về nhà. Khi đi qua khu vực trước cửa số nhà 2x phố N, phường V, quận Đ, Hà Nội, thì D thấy 01 chiếc xe máy điện Vinfast Evo 200 màu xanh, mang biển kiểm soát 29H2 - 549.59 của Công ty Cổ phần D (chỉ địa trụ sở tại Tòà nhà VP S, đường C, khu đô thị V, phường P, quận L, Hà Nội) đang dựng ở trước số nhà 2x phố N không khóa cổ, không khóa càng và không có người trông giữ nên D đã nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe máy điện này để sử dụng. Sau đó, D đi bộ về nhà thay bộ quần áo công nhân dọn vệ sinh đang mặc trên người và mặc một chiếc áo cộc tay màu tím, quần bò dài màu xanh và đội mũ lưỡi trai rồi đi bộ ra trước cửa số nhà 2x phố N. Tại đây, D dắt bộ chiếc xe máy điện màu xanh của hãng xe Xanh SM, biển kiểm soát 29H2 - 549.59 đi đến via hè trước cửa số nhà 1x phố L, phường H, quận H, Hà Nội và dựng chiếc xe máy điện ở đây.
Sau đó, D đi bộ về nhà trọ trong khu tập thể số 1X phố N lấy một chiếc xích sắt và một ổ khóa bằng kim loại đem đến phố l nơi đang dựng chiếc xe máy điện trên và khóa vào bánh xe phía trước của chiếc xe này rồi đi bộ về nhà ngủ. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, D dậy đi ra lấy chiếc xe máy trên rồi dắt ra khu vực vườn hoa H, phường Q, quận B, Hà Nội. Tại đây, D có gặp một người đàn ông không quen biết làm sửa khóá dạo nên D đã nhờ người này làm một chiếc chìa khóa để mở khóa chiếc xe điện lấy trộm được với giá 100.000 đồng. Sau đó, D dùng chiếc khóa vừa làm để mở khóa chiếc xe máy điện này tuy nhiên xe vẫn không nố máy được nên D lại dắt bộ chiếc xe máy về cất giấu tại vỉa hè trước cửa số 1x phố L rồi đi về nhà. Nhận được tin báo, Cơ quan Công an phường V tiến hành rà soát, thu thập chứng cứ và tài liệu. Đến 17 giờ ngày 29/4/2025, D bị Công an phường V triệu tập, tại Cơ quan điều tra D đã đầu thú và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của Nguyễn Văn D những đồ vật, tài sản sau: + 01 chiếc xe máy điện (mô tô điện) màu xanh của hãng xe Xanh SM, biển kiểm soát 29H2 - 549.59, số khung: RPXP1LHHVPE041034, số máy: VFHCEAD230610D0075, xe đã qua sử dụng. + 01 sợi xích kim loại màu xám, dài khoảng 01 mét. + 01 ổ khóa kim loại màu vàng - trắng có khắc chữ VIET - TIEP trên thân ổ khoa. + 01 chùm chìa khóa gồm: 01 chìa khóa kim loại trên thân chìa khóa có chữ VIET - TIEP; 01 chìa khóa xe máy ở phần cán nhựa của chìa khóa có logo chữ V. + Trang phục Nguyễn Văn D mặc để thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản: 01 quần bò dài màu xanh, 01 áo cộc tay nam màu tím và 01 mũ lưỡi trai màu đen.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 63/KL-HĐĐGTS ngày 06/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản - Ủy ban nhân dân quận Đ, kết luận: "Chiếc xe mô tô điện Vinfast Evo 200 màu xanh, mang biển kiểm soát 29H2 - 549.59, đăng ký năm 2023, đã qua sử dụng đã thu hồi định giá 23.000.000 đồng".
Đối với chiếc xe mô tô điện Vinfast Evo 200 màu xanh mang biển kiểm soát 29H2-549.59, số khung: RPXPILHHVPE041034, số máy: VFHCEAD230610D0075. Qua xác minh chủ sở hữu chiếc xe là của Công ty Cổ phần D ký kết hợp đồng hợp tác và bàn giao xe cho anh Trần Nhật T (sinh năm 2003; Trú tại thôn V, xã Yên D, huyện Y, tỉnh Nam Định) chạy dịch vụ cho Công ty.
Tại Cơ quan điều tra, anh T trình bày ngày 28/4/2025 có cho anh Trần Văn H (sinh năm 1991; Trú tại khu 1x, xã N, huyện T, tỉnh Phú Thọ - là anh họ của anh T) mượn để chạy xe hộ do phải đi học. Cơ quan điều tra đã tiến hành trao trả lại chiếc xe cho anh N- Đại diện ủy quyền của Công ty cố phần D.
Trách nhiệm dân sự: Anh N- Là người đại diện theo ủỷ quyền của Công ty Cổ phần D, đã nhận lại được tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự.
Tại Cáo trạng số 01/CT-VKSTX ngày 02/7/2025 của Viện kiểm sát nhân khu vực 2 Hà Nội đã truy tố Nguyễn Văn D về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận tội như đã khai tại cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy bố bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện. Bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm Sát tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 47; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D mức án từ 14-18 tháng tù;
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo;
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 sợi xích kim loại màu xám, dài khoảng 01 mét. 01 ổ khóa kim loại màu vàng - trắng có khắc chữ VIET - TIEP trên thân ổ khóa. 01 chùm chìa khóa gồm: 01 chìa khóa kim loại trên thân chìa khóa có chữ VIET - TIEP; 01 chìa khóa xe máy ở phần cán nhựa của chìa khóa có logo chữ V.Trang phục Nguyễn Văn D mặc để thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản: 01 quần bò dài màu xanh, 01 áo cộc tay nam màu tím và 01 mũ lưỡi trai màu đen.
Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, mong sớm trở về với gia đình.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và người làm chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đ ( nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 Hà Nội), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn D không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng đã thu giữ, cùng các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 03 giờ 30 ngày 29/4/2025, tại khu vực trước cửa số nhà 2x phố N, phường V, quận Đ, Hà Nội, Nguyễn Văn D đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản là Chiếc xe mô tô điện Vinfast Evo 200 màu xanh mang biển kiểm soát 29H2 - 549.59 trị giá 23.000.000 đồng của Công ty Cổ phần D. Tài sản đã được thu hồi trao trả cho bị hại.
. Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo đã được giáo dục pháp luật nhiều lần, bản thân nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tư lợi nên cố ý thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo gây hậu quả tiêu cực, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo nghiêm minh.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, tài sản đã thu hồi, bị cáo tự thú nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục và cải tạo đối với bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên thấy cần miễn hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 sợi xích kim loại màu xám, dài khoảng 01 mét. 01 ổ khóa kim loại màu vàng - trắng có khắc chữ VIET - TIEP trên thân ổ khóa. 01 chùm chìa khóa gồm: 01 chìa khóa kim loại trên thân chìa khóa có chữ VIET - TIEP; 01 chìa khóa xe máy ở phần cán nhựa của chìa khóa có logo chữ V.Trang phục Nguyễn Văn D mặc để thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản: 01 quần bò dài màu xanh, 01 áo cộc tay nam màu tím và 01 mũ lưỡi trai màu đen. Hiện tại đang lưu giữ tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội theo biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu ngày 29/4/2025. Vật chứng sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
. Về dân sự: Không
. Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; Điều 47; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2017; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Khoản 1, mục 1 danh mục mức án phí lệ phí Tòa án; 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản” 2. Về hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn D 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn từ tính từ ngày 29/4/2025.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo; 3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 sợi xích kim loại màu xám, dài khoảng 01 mét. 01 ổ khóa kim loại màu vàng - trắng có khắc chữ VIET - TIEP trên thân ổ khóa. 01 chùm chìa khóa gồm: 01 chìa khóa kim loại trên thân chìa khóa có chữ VIET - TIEP; 01 chìa khóa xe máy ở phần cán nhựa của chìa khóa có logo chữ V.Trang phục Nguyễn Văn D mặc để thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản: 01 quần bò dài màu xanh, 01 áo cộc tay nam màu tím và 01 mũ lưỡi trai màu đen. Hiện tại đang lưu giữ tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội theo biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu ngày 29/4/2025. Vật chứng sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. 5.Về quyền kháng cáo: Bị cáo, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.p
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Bị cáo; Bị hại;Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - VKSND khu vực 2 Hà Nội; - VKSND thành phố Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội; - Công an thành phố Hà Nội - Cục THADS thành phố Hà Nội - Lưu HS - VP. | Phạm Thị T Phương |