- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo bị truy tố về tội giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Danh N phạm tội “Giết người”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2025/HS-ST Ngày: 12-9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế
Thẩm phán:
Ông Trịnh Xuân Miễn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Tuấn
Ông Hoàng Anh Lý
Ông Dương Thành Công
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Hải Sơn, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phan Đình Khoa - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 62/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo:
Danh Nhỏ, sinh ngày 20/3/1993 tại A, Kiên Giang (nay là An Biên A); CCCD số: 091093005984, ngày cấp 05/5/2023, nơi cấp: Cục CSQLH về TTXH Bộ C3; nơi cư trú: Ấp X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (nay là ấp X, xã A, tỉnh An Giang); nghề nghiệp: Làm thuê (ngư phủ); trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Khơmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh X và bà Thị C; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 31/3/2025; bị tạm giam từ ngày 09/4/2025 đến nay. Bị cáo có mặt.
- Bị hại: Ông Trịnh Đình C1, sinh năm 2000 (đã chết).
Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Ông Trịnh Đình H, sinh năm 1972 và bà Bùi Thị H1 (ông H và bà H1 đã ly hôn, không xác định được nơi cư trú hiện tại của bà H1). Ông H có mặt.
Nơi cư trú: Ấp M, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau (nay là ấp M, xã Đ, tỉnh Cà Mau).
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lâm Văn G của Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C. Luật sư có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 11/01/2025, hai tàu cá (loại ghe cào đôi) mang hiệu số kiểm soát KG-93719-TS (tàu cái) và KG-90879-TS (tàu đực) hành nghề lưới kéo do bà Lê Thị D-sinh năm 1950 (trú: Phường V, TP ., Kiên Giang) làm chủ. Bà D giao tàu KG-93719-TS cho ông Nguyễn Văn T- sinh năm 1975 (trú: Ấp M, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang) làm Thuyền trưởng, quản lý; giao tàu KG-90879-TS (tàu đực) ông Danh V-sinh năm 1993 (trú ấp với ông T) làm Thuyền trưởng, quản lý. Hai tàu xuất bến từ ngày 11/01/2025 tại cửa biển K, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang để ra biển đánh bắt thủy sản.
Tàu cá hiệu số KG-93719-TS (ghe cái) do ông Nguyễn Văn T làm Thuyền trưởng, đi cùng 14 Thuyền viên gồm: Nguyễn Thành T1, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn L, Trần Văn B, Nguyễn Văn T3, Danh T4, Nguyễn Văn T5, Huỳnh Hữu V1, Nguyễn Văn V2, Lý Thanh H2, Phạm Huỳnh Phước H3, Phạm Hoàng P và Trịnh Đình C1. Đối với tàu KG-90879-TS (ghe đực) do ông Danh V làm Thuyền trưởng, đi cùng với 05 Thuyền viên khác, gồm: Danh Nhỏ, D, Danh T6, Phan Trung T7 và Kim T8. Khi đánh bắt trên biển, hai ghe thường chạy cùng nhau, giữ khoảng cách với cự ly khoảng trên 100m, liên lạc với nhau qua hệ thống điện đàm trên cabin buồng lái.
Quá trình đánh bắt từ tháng 01 đến tháng 3/2025, các hoạt động khai thác trên 02 tàu diễn ra bình thường. Đến ngày 29/3/2025, hai tàu tạm ngừng hoạt động để bán thủy sản cho ghe vận tải (ghe thu mua hải sản) và neo đậu cạnh tàu cá số hiệu KG-54519-TS do ông Huỳnh Văn H4 - sinh năm 1996 (trú: Ấp V, xã V, huyện C, Kiên Giang) làm Thuyền trưởng để các Thuyền viên nghỉ ngơi. Khoảng 08 giờ 00 phút, các Thuyền viên của hai tàu tập trung lại trên tàu KG-93719-TS (ghe cái) tổ chức tiệc nhậu. Trong lúc nhậu, giữa hai Thuyền viên Trần Văn B và Trịnh Đình C1 xảy ra cự cãi dẫn đến đánh nhau. Bền chạy đi lấy 03 cây dao (loại dao Thái Lan, cán vàng) định đánh nhau với C1. Bền đưa cho Thuyền viên Nguyễn Văn T2 một cây dao, nhưng T2 không tham gia đánh nhau. Thấy vậy, ông Nguyễn Văn T (Thuyền trưởng) vào can ngăn, lấy 02 cây dao trên tay của B lại để không cho hai bên đánh nhau. Lúc này Trịnh Đình C1 đến giật cây dao trên tay ông T, làm lưỡi dao cắt trúng lòng bàn tay trái của C1 01 vết, kích thước 03cm x 0,5cm nên ông T cầm 02 cây dao này ném xuống biển. Các Thuyền viên trên tàu cũng vào can ngăn thì B và Chung kết thúc việc đánh nhau. Ông T kêu C1 đi qua tàu đực nghỉ ngơi và gọi các Thuyền viên đi theo tàu cái trở về tàu. Đồng thời, kêu Thuyền trưởng Danh Vàng điều khiển tàu KG-90879-TS (ghe đực) chạy tách ra xa, giữ khoảng cách với ghe cái, mục đích không cho các Thuyền viên có mâu thuẫn trên tàu đánh nhau.
Sau đó, ông Danh V điều khiển tàu đực chở Danh N, Kim T8, Trịnh Đình C1, Danh T6, D, Phạm Hoàng P, Nguyễn Huỳnh Phước H5 và Phan Trung T7 di chuyển đi, cách tàu cái khoảng 01km. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi ghe đực đang đậu tại tọa độ 06026’N – 105025’E, (thuộc vùng biển tỉnh Cà Mau). Lúc này các Thuyền viên Danh The, Danh C2, P, H5 và T7 ngồi phía trước boong tàu nói chuyện, trong phòng Thuyền trưởng gồm có: Danh Vàng đang điều khiển tàu, Kim T8 và C1 (ngồi phía sau Danh V), Danh N nằm võng phía sau Kim T8 và C1. Thuyền trưởng Danh Vàng có la rầy các Thuyền viên không được đánh nhau nên C1 xin lỗi ông V vì đã nhậu say, đánh nhau với B. Sau đó C1 quay sang trách Danh N khi đánh nhau không ra giúp C1 đánh B, lúc nói chuyện C1 có chửi thề “Địt mẹ” nên Danh Nhỏ tức giận, hai bên xảy ra cự cãi nhau. Danh Nhỏ kêu C1 ngủ đi nhưng C1 không ngủ mà vẫn tiếp tục nói lảm nhảm không rõ nội dung và chửi thề thô tục đối với N. Do tức giận nên N leo xuống võng lấy cây dao (loại dao Thái Lan cán vàng, mũi nhọn) trong thùng giấy đựng bia “BIVINA” gần đó cầm trên tay phải, mũi dao hướng vào trong người Nhỏ, bò đến gần rồi chồm người qua phía vai trái C1 đang ngồi (mặt hướng ra trước lái) và đâm 01 nhát trúng vào vùng ngực trái của C1 rồi rút dao ra. C1 la lên thì Thuyền trưởng Danh Vàng, Kim T8 và các Thuyền viên trên tàu vào can ngăn, Danh N đi ra ngoài sau lái ném dao xuống biển. Các Thuyền viên trên tàu tập trung băng bó vết thương cho C1 để chạy đi tìm tàu Kiểm ngư hỗ trợ nhưng chưa tới nơi thì C1 tử vong, nên ông V điện đàm thông báo cho ông Nguyễn Văn T - Thuyền trưởng tàu cái biết, cùng nhau điều khiển hai tàu vào Đồn Biên phòng R, huyện N trình báo.
- Tại Cáo trạng số 24/CT-VKS-P1 ngày 18 tháng 8 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đã truy tố Danh N về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đề nghị: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo N từ 14 đến 16 năm tù về tội “Giết người”. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về việc đồng ý bồi thường thiệt hại về tính mạng cho đại diện hợp pháp của bị hại tổng số tiền là 176.000.000 đồng.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Đề nghị giảm nhẹ mức thấp hơn mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
- Đại diện hợp pháp của bị hại trình bày: Yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí mai táng số tiền 76.000.000 đồng, bồi thường tổn thất tinh thần số tiền 100.000.000 đồng; Xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Thừa nhận hành vi phạm tội, xin lỗi gia đình bị hại, xin giảm nhẹ hình phạt, đồng ý bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của gia đình bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Danh N thừa nhận hành vi phạm tội là phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Theo đó, có đủ cơ sở kết luận: Danh Nhỏ và Trịnh Đình C1 là ngư phủ cùng làm thuê trên tàu biển hiệu số KG-90879-TS do ông Danh V làm Thuyền trưởng. Vào ngày 29/3/2025, khi tàu đang di chuyển tại tọa độ 06026’N - 105025’E thuộc vùng biển tỉnh Cà Mau, do trước đó Danh N có xảy ra mâu thuẫn cự cãi với ông C1 về việc ông C1 chửi thề, lớn tiếng với Danh N vì cho rằng Danh N không bênh vực ông C1 khi xảy ra đánh nhau với người khác, nên Danh N đến thùng giấy đựng đồ trong ca bin phía sau buồng lái lấy 01 con dao Thái Lan cán vàng, mũi nhọn đâm ông C1 01 nhát vào ngực bên trái làm ông C1 tử vong. Với những tình tiết này, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo N về tội “Giết người” là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện tính hung hãn và quyết liệt, xem thường pháp luật, nên thuộc trường hợp giết người có tính chất côn đồ được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo xâm phạm tính mạng người khác vi phạm pháp luật hình sự, phạm tội phải bị xử lý và phải chịu hình phạt theo quy định.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có cân nhắc đến tình tiết giảm nhẹ sau đây cho bị cáo: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Nhận thức pháp luật bị hạn chế do không biết chữ; Chưa có tiền án, tiền sự; Đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và các đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội với một thời gian dài nhằm cải tạo bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại cho đại diện gia đình bị hại tổng số tiền 176.000.000 đồng, gồm chi phí mai táng 76.000.000 đồng và 100.000.000 đồng tiền tổn thất tinh thần. Việc bồi thường là sự tự nguyện của bị cáo được ghi nhận.
Trường hợp chậm thanh toán, bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định.
Với các phân tích trên, ý kiến bào chữa của Luật sư được chấp nhận một phần.
Do bị kết án và bồi thường thiệt hại nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 48; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 591 của Bộ luật Dân sự; các điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Tuyên bố bị cáo Danh N phạm tội “Giết người”.
2. Phạt bị cáo Danh N 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 31 tháng 3 năm 2025.
3. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Danh N về việc đồng ý bồi thường thiệt hại về tính mạng cho người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Trịnh Đình H tổng số tiền 176.000.000 (một trăm bảy mươi sáu triệu) đồng.
4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền nêu trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành theo lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
5. Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 8.800.000 (tám triệu tám trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
6. Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Viện công tố và KSXX phúc thẩm VKSnd tối cao tại TP HCM; - VKS nd tỉnh Cà Mau; - Công an tỉnh Cà Mau; - Trại tạm giam Công an tỉnh Cà Mau; - Thi hành án hình sự; - Phòng Thanh tra, KT và THA TAnd tỉnh CM; - THA dân sự tỉnh Cà Mau; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ, án văn, Tòa HS, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Trọng Quế |