vanban.org

Bản án 60/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng Tuyên án 30/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25 tháng 8 năm 2025. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu T - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2025/HS-ST
Ngày: 30 - 9 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệp

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng

Ông Đặng Ngọc Thúy

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nguyên Khang - Cán bộ Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Trần Lê Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2025/QĐXXST–HS ngày 18 tháng 9 năm 2025 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Hữu T, tên gọi khác: cu C, sinh ngày 10 tháng 01 năm 1990 tại thành phố Đà Nẵng; nơi cư trú: 20 đường T, tổ 54HA, phường A, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Hữu P (sinh năm 1963 - còn sống) mẹ: Nguyễn Thị Kim M (sinh năm 1967 - còn sống). Gia đình bị cáo có 03 người con, bị cáo là con thứ nhất. Vợ: Hà Thị Thanh H (sinh năm 1994); bị cáo có bốn con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 05/5/2012 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê (cũ) xử phạt 03 năm tù về tội Cố ý gây thương tích theo Bản án số 60/2012/HSST.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/8/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân Trại tạm giam Cẩm Lệ thuộc Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Đà Nẵng. Có mặt tại phiên toà.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Nguyễn Hữu P, sinh năm 1963; bà Nguyễn Thị Kim M, sinh năm 1967, chị Hà Thị Thanh H, sinh năm 1994; nơi cư trú: 20 đường T, tổ 54HA, phường A, thành phố Đà Nẵng. Bà M, chị H có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hà Xuân B, sinh năm: 1959 - Luật sư Văn phòng Luật sư P, Đoàn Luật sư thành phố Đà Nẵng; địa chỉ: 109 đường H, phường C, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Đăng Duy T, sinh năm: 1985; nơi cư trú: KX đường N, phường A, thành phố Đà Nẵng. Xin vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Huỳnh Tấn S, sinh năm: 1988; hộ khẩu thường trú: Xã T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 27/01/2025, anh Nguyễn Đăng Duy T điều khiển xe ôtô loại 05 chỗ ngồi, nhãn hiệu: HUYNDAI, loại xe ACCENT, màu trắng, mang biển kiểm soát: 92A-418.01 mượn của anh Huỳnh Tấn S đến để trước số nhà 24 đường N, phường A, thành phố Đà Nẵng rồi đi về nhà của mình. Đến 22 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Hữu T đi bộ về đến đường N, phường A thì nghe thấy tiếng nhạc, hát lớn ở quanh đó nên bỗng dưng tức giận và nổi nóng. T nhìn thấy chiếc xe ô tô của anh T đang đỗ trước số nhà 24 đường N, liền nhặt lấy cục gạch và bê tông vụn ở dưới đất bên lề đường rồi ném nhiều lần vào kính chắn gió ở phía trước; cửa kính phía trước bên phải và hông sau bên trái của chiếc xe ôtô. Sau đó, T đi xuống phía sau nhà của T, cầm theo 01 con dao dài khoảng 35cm rồi quay lại và trèo lên trần xe ô tô, cầm dao đâm nhiều lần vào trần xe làm thủng phần trần xe và đâm vào phần kính sau của xe làm vỡ kính sau xe rồi T nhảy xuống đất. Lúc này, T mang con dao trên cất giấu trong một chậu cây cảnh trước số nhà 189/16 đường N rồi đến Công an phường trình báo toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Hậu quả xe ôtô loại 05 chỗ ngồi mang biển số 92A-418.01 nêu trên bị hư hỏng ở các vị trí: Kính trước của xe bị vỡ, kính sau của xe bị vỡ, kính của cửa phía trước bên phải bị nứt và phần thân của cánh cửa trước bên phải bị lún nhiều vị trí; trần xe bị móp méo, trầy xước và bị thủng 05 (năm) lỗ lớn nhỏ khác nhau; nắp ca-pô trước của xe bị trầy xước, hông sau bên trái của xe bị trầy xước và móp nhẹ ở vị trí sát đèn hậu của xe.

Tại Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 30/3/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự quận Cẩm Lệ kết luận: Tổng giá trị bị thiệt hại của xe ôtô loại 05 (năm) chỗ ngồi, nhãn hiệu: HUYNDAI, loại xe ACCENT, màu trắng, mang biển kiểm soát: 92A-418.01 là 56.753.656đ (Năm mươi sáu triệu, bảy trăm năm mươi ba nghìn, sáu trăm năm mươi sáu đồng).

Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 654/KLGĐ ngày 13/5/2025 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực miền trung kết luận: Trước, trong và sau thời điểm thực hiện hành vi phạm tội Nguyễn Hữu T bị hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi.

Tại Cáo trạng số 43/CT-VKSKV3 ngày 16 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất vụ án, nhân thân, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 178; điểm b, q, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T mức án từ 12 (mười hai) đến 18 (mười tám) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:

+ Tịch thu, tiêu hủy 01 con dao dài khoảng 35cm, có cán bằng gỗ, kích thước dài khoảng 13cm, nơi rộng nhất khoảng 3,4cm, có lưỡi dao bằng kim loại, kích thước dài khoảng 23cm, nơi rộng nhất khoảng 7cm, nối giữa cán dao và lưỡi dao có khâu làm bằng kim loại màu vàng, phần đuôi cán dao được xỏ một vòng bằng kim loại hình tròn màu trắng do là công cụ, phương tiện phạm tội và đã qua sử dụng.

+ Đối với 01 xe ô tô loại 05 chỗ ngồi biển kiểm soát: 92A-418.01 Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đà Nẵng đã trả lại cho anh Huỳnh Tấn S là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Nguyễn Đăng Duy T yêu cầu bồi thường số tiền 50.000.000 đồng; gia đình của bị cáo Nguyễn Hữu T đã bồi thường số tiền 15.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo T bồi thường số cho ông T tiền 35.000.000 đồng.

Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố là đúng. Bị cáo có lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã biết hối hận để bị cáo có cơ hội về địa phương làm việc, chăm sóc con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Hữu T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 27/01/2025 tại trước số nhà 24 đường N, thành phố Đà Nẵng. Nguyễn Hữu T (là người bị hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi) có hành vi dùng gạch, bê tông ném và dùng dao đâm vào xe ô tô hiệu HUYNDAI, loại xe ACCENT màu trắng 05 chỗ, BKS: 92A-1234 của Nguyễn Đăng Duy T gây thiệt hại về tài sản với tổng giá trị là 56.753.656 đồng. Hành vi của bị cáo T đã phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” với tình tiết định khung tăng nặng hình phạt “Gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 178 Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 43/CT-VKSKV3 ngày 16 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:

Bị cáo T đã có hành vi cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an địa phương. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tuy bị cáo T đã bị TAND quận Thanh Khê (cũ) xử phạt 03 năm tù về tội Cố ý gây thương tích theo Bản án số 60/2012/HSST ngày 05/5/2012 nhưng không có tình tiết tăng nặng. Đồng thời, trước, trong và sau thời điểm thực hiện hành vi phạm tội Nguyễn Hữu T bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã ra Công an tự thú. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo; đã tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại, bị hại đã có đơn xin bãi nại; gia đình có nhiều người có công với cách mạng: Có 02 ông nội bác là Liệt sỹ, bà cố là bà mẹ Việt Nam Anh Hùng; vợ và 04 con của bị cáo được cấp Giấy chứng nhận hộ nghèo, cận nghèo, con còn nhỏ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, q, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xét thấy cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét bị cáo T có 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và các tình tiết giảm nhẹ nêu trên tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử quyết định hình phạt cho bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử áp dụng các quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để giải quyết:

+ Đối với 01 con dao dài khoảng 35cm, có cán bằng gỗ, kích thước dài khoảng 13cm, nơi rộng nhất khoảng 3,4cm, có lưỡi dao bằng kim loại, kích thước dài khoảng 23cm, nơi rộng nhất khoảng 7cm, nối giữa cán dao và lưỡi dao có khâu làm bằng kim loại màu vàng, phần đuôi cán dao được xỏ một vòng bằng kim loại hình tròn màu trắng: Là công cụ, phương tiện phạm tội và đã qua sử dụng nên Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.

+ Đối với 01 xe ô tô loại 05 chỗ ngồi biển kiểm soát: 92A-418.01: Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đà Nẵng đã trả lại cho anh Huỳnh Tấn S - chủ phương tiện không có yêu cầu hay khiếu nại gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là Nguyễn Đăng Duy T chỉ yêu cầu bồi thường số tiền 50.000.000 đồng; gia đình của bị cáo Nguyễn Hữu T đã bồi thường số tiền 15.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo T bồi thường cho ông T số tiền 35.000.000 đồng.

Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Hữu T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Theo những nhận định như trên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng và chấp nhận đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo T đề nghị Hội đồng xét xử về áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, q, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự; nhưng không chấp nhận đề nghị cho bị cáo T được hưởng án treo hoặc phạt cải tạo không giam giữ của Luật sư.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 178; điểm b, q, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25 tháng 8 năm 2025.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy 01 con dao dài khoảng 35cm, có cán bằng gỗ, kích thước dài khoảng 13cm, nơi rộng nhất khoảng 3,4cm, có lưỡi dao bằng kim loại, kích thước dài khoảng 23cm, nơi rộng nhất khoảng 7cm, nối giữa cán dao và lưỡi dao có khâu làm bằng kim loại màu vàng, phần đuôi cán dao được xỏ một vòng bằng kim loại hình tròn màu trắng.

(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Đà Nẵng theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 18/9/2025).

3. Về dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 589 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T bồi thường cho anh Nguyễn Đăng Duy T số tiền 35.000.000đ (Ba mươi lăm triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về việc “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án” của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Hữu T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm; 1.750.000 đồng (Một triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về thời hạn kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 30/9/2025. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ