- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYEN BIEN S - PHAM HUNG N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Biên S đối với bị đơn ông Phạm Hùng N về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2025/HNGĐ-ST Ngày: 19 - 9 - 2025 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Minh Lý
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Thoa - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 15- Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15- Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh Trúc - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15- Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 144/2025/TLST-HNGĐ, ngày 04 tháng 4 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Biên S, sinh năm 1994; CCCD: xxxxxxxxxxxx; nơi thường trú: Số nhà H, Tổ A, ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã B, tỉnh Đồng Tháp); nơi tạm trú: Số C đường L, Tổ D, Khu phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố P, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt
2. Bị đơn: Ông Phạm Hùng N, sinh năm 1986; nơi thường trú: Phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định (này là phường A, tỉnh Gia Lai); nơi tạm trú: Số A, Đ lại Bình Dương, Khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố P, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nguyên đơn bà Nguyễn Biên S trình bày:
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Biên S và ông Phạm Hùng N tự nguyện chung sống và kết hôn vào năm 2019, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 66/2019, ngày 30/9/2019, tại UBND xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã B, tỉnh Đồng Tháp). Thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, nhưng thời gian sau này phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không có hạnh phúc, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã. Hiện nay bà S và ông N không còn tình cảm, đã sống ly thân gần 02 năm. Vì vậy, nay thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên bà Nguyễn Biên S yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Phạm Hùng N.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung: Phạm Anh Đ1, sinh ngày 15/6/2019 và Phạm Anh N1, sinh ngày 07/02/2021. Hiện nay con chung đang sống cùng với bà S. Sau khi ly hôn bà S yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng hai con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Để đảm bảo quyền lợi của các con bà S yêu cầu ông N phải cấp dưỡng nuôi con chung là Phạm Anh Đ1, sinh ngày 15/6/2019 và Phạm Anh N1, sinh ngày 07/02/2021 mỗi con, mỗi tháng 5.000.000 đồng (hai con 10.000.000 đồng/tháng), thời gian cấp dưỡng từ khi Toà án có quyết định cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trong trường hợp Toà án xét thấy mức cấp dưỡng nêu trên không phù hợp với thu nhập của ông N hoặc nhu cầu sinh hoạt của con thì có thể xem xét quyết định theo mức cấp dưỡng mà pháp luật quy định.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nguyên đơn giao nộp tài liệu chứng cứ: Căn cước công dân; Giấy chứng nhận kết hôn; Giấy khai sinh.
2. Bị đơn ông Phạm Hùng N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt và không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Biên S nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của bị đơn ông Phạm Hùng N.
Bị đơn giao nộp tài liệu chứng cứ: Không
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn vắng mặt không có lý do.
- Phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa.
* Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
* Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
* Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 81, 82, 107, 110 của Luật hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Biên S đối với bị đơn ông Phạm Hùng N về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Đối với mức cấp dưỡng nuôi con đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận mức cấp dưỡng nuôi con bằng ½ mức lương tối thiểu vùng, tương đương 2.500.000 đồng/tháng/con.
+ Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng: Không
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về tố tụng:
. Về quan hệ pháp luật: Ngày 05 tháng 3 năm 2025, bà Nguyễn Biên S có đơn khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với ông Phạm Hùng N. Từ những nội dung tranh chấp nêu trên, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại Điều 51, Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[1.2]. Về thẩm quyền: Bà Nguyễn Biên S khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với ông Phạm Hùng N, đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại thời điểm thụ lý, bị đơn ông Phạm Hùng N đang cư trú tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một (nay là Toà án nhân dân khu vực 15- Thành phố Hồ Chí Minh) theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về việc tham gia phiên tòa của đương sự:
Tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Biên S, bị đơn ông Phạm Hùng N vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
. Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Biên S và ông Phạm Hùng N tự nguyện chung sống và kết hôn vào năm 2019, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 66/2019, ngày 30/9/2019, tại UBND xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã B, tỉnh Đồng Tháp). Việc chung sống và đăng ký kết hôn giữa bà S và ông N là hoàn toàn tự nguyện, không bên nào bị ép buộc, đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa bà S và ông N là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Nay bà S yêu cầu ly hôn với ông N vì lý do vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, vợ chồng chung sống không có hạnh phúc, không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc lẫn nhau.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên toà nhưng ông N đều vắng mặt nên được xem là từ bỏ quyền trình bày, đưa ra chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; điều này cũng chứng tỏ ông N không mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc nên vợ chồng phải có trách nhiệm chăm sóc, giúp đỡ nhau về mọi mặt, tin tưởng yêu thương nhau, những mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng cần phải tìm cách giải quyết để xây dựng gia đình hạnh phúc.
Việc bà S và ông N không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau và không cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn nên vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Qua xác minh tại địa phương nơi bà S, ông N cư trú cho biết: Quá trình chung sống vợ chồng bà S và ông N không yêu cầu địa phương giải quyết mâu thuẫn vợ chồng nên địa phương không rõ tình trạng mâu thuẫn giữa bà S và ông N.
Bà S xác định hiện nay không còn tình cảm với ông N, vợ chồng không thể nào có cơ hội hàn gắn. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định mâu thuẫn giữa bà S và ông N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà S yêu cầu được ly hôn với ông N là có cơ sở. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Biên S đối với ông Phạm Hùng N.
. Về con chung: Qúa trình chung sống vợ chồng có 02 con chung: Phạm Anh Đ1, sinh ngày 15/6/2019 và Phạm Anh N1, sinh ngày 07/02/2021. Hiện nay hai con chung đang sống cùng với bà S. Sau khi ly hôn bà S yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Xét thấy, con chung là Phạm Anh Đ1, sinh ngày 15/6/2019 và Phạm Anh N1, sinh ngày 07/02/2021, còn nhỏ, bà S có nguyện vọng được nuôi con chung. Ông N không có văn bản trình bày về nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Hiện nay, bà S có công việc và thu nhập ổn định đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, để con chung phát triển ổn định, toàn diện cần giao con chung là Phạm Anh Đ1, sinh ngày 15/6/2019 và Phạm Anh N1, sinh ngày 07/02/2021 cho bà Nguyễn Biên S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp nên yêu cầu của bà S về việc trực tiếp nuôi dưỡng con chung được chấp nhận.
. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà S yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung Phạm Anh Đ1, sinh ngày 15/6/2019 và Phạm Anh N1, sinh ngày 07/02/2021 mỗi con, mỗi tháng 5.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trong trường hợp Toà án xét thấy mức cấp dưỡng nêu trên không phù hợp với thu nhập của ông N hoặc nhu cầu sinh hoạt của con thì có thể xem xét quyết định theo mức cấp dưỡng mà pháp luật quy định.
Căn cứ Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
“…2. Tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con”.
Xét thấy, bà S yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng, mỗi con 5.000.000 đồng nhưng bà S không chứng minh được khả năng, thu nhập thực tế của ông N. Hiện nay mức lương tối thiểu vùng tại khu vực ông Phạm Hùng N cư trú là 4.960.000 đồng/tháng. Căn cứ Điều 107, 110, 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử buộc ông N phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung Phạm Anh Đ1, sinh ngày 15/6/2019 và Phạm Anh N1, sinh ngày 07/02/2021 mỗi tháng, mỗi con là 2.500.000 đồng (bằng ½ mức lương tối thiểu vùng). Thời gian cấp dưỡng kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
. Tại phiên tòa, phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15- Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bà Nguyễn Biên S phải chịu 300.000 đồng (án phí ly hôn). Ông Phạm Hùng N phải chịu 300.000 đồng (án phí cấp dưỡng nuôi con).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 147, 227, 228, 238, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ các điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 107, 110 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Biên S đối với bị đơn ông Phạm Hùng N về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
1.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Biên S được ly hôn với ông Phạm Hùng N.
1.2. Về con chung: Giao con chung Phạm Anh Đ1, sinh ngày 15/6/2019 và Phạm Anh N1, sinh ngày 07/02/2021 cho bà Nguyễn Biên S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
1.3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Phạm Hùng N có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung Phạm Anh Đ1, sinh ngày 15/6/2019 và Phạm Anh N1, sinh ngày 07/02/2021 mỗi con, mỗi tháng 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng). Thời gian cấp dưỡng kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì quyền và lợi ích hợp pháp của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì còn phải trả tiền lãi, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
1.4. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
2. Về án phí sơ thẩm:
- Bà Nguyễn Biên S phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/24 số 0009386, ngày 05/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Ông Phạm Hùng N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng)
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; -VKSND khu vưc 15- TP Hồ Chí Minh; - THADS TP. Hồ Chí Minh; - UBND xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã B, tỉnh Đồng Tháp); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Minh Nga Nguyễn Thị Minh N2 |