- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "L-V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ L:
- Căn cứ chính? Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Luật tố tụng hành chính; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5-VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| [ Bản án số: 60/2025/HNGĐ-ST. Ngày: 19/9/2025 V/v “T/c về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5-VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thùy Dương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hiền
2. Ông Trần Văn Hổ
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thái Khang – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5-Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5-Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Điệp -Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5-Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 90/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2025 về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2025/QĐXX-ST ngày 03 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ L, sinh ngày 16/10/1982.
CCCD: A
Địa chỉ: B, ấp L, xã G, tỉnh Vĩnh Long.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Trần Thị Cẩm T - Văn phòng L2 - Đoàn luật sư tỉnh V
2. Bị đơn: Ông Lê Quang V, sinh ngày 18/5/1988.
CCCD: B
Địa chỉ: ấp L, xã G, tỉnh Vĩnh Long.
3. Người làm chứng:
3.1. Bà Thái Thị Ngọc N, sinh ngày 31/10/1970
CCCD: C
Địa chỉ: khu phố D, phường P, tỉnh Vĩnh Long
3.2. Ông Trương Đắc T1, sinh ngày 18/3/1986
CCCD: D
Địa chỉ: ấp L, xã G, tỉnh Vĩnh Long
3.3 Bà Trần Thị Bích D, sinh ngày 01/01/1986
CCCD: E
Địa chỉ: A, ấp T, xã B, tỉnh Vĩnh Long
Tất cả có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ L, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Luật sư Trần Thị Cẩm T trình bày:
Bà L và ông Lê Quang V trước đây là vợ chồng, đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 24 ngày 18/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Theo Quyết định trên, ông Lê Quang V được trực tiếp nuôi con chung là cháu Lê Quang T2 sinh ngày 03/3/2016. Theo Biên bản hòa giải tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, ông Lê Quang V hứa tuy ông V nuôi con nhưng sẽ để hai cháu ở chung với bà L nên bà L mới đồng ý để ông V nuôi con. Tuy nhiên, sau khi có quyết định của Tòa án, ông V đã đưa cháu T2 về ở chung với ông V, không thực hiện theo thỏa thuận khi hòa giải.
Trong quá trình cháu T2 ở chung với ông V, ông V không chăm sóc cháu mà giao cho ông bà nội. Tuy nhiên do ông bà nội đã lớn tuổi nên cháu phải tự lo. Những lần về chơi với bà, cháu có kể cháu phải tự đi học, tự chiên trứng ăn, khi không có đồ ăn cháu đói phải lấy bánh tráng nhúng nước ăn, cháu muốn về ở với bà. Hiện cha cháu cũng đã cưới vợ khác.
Do đó, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, cho bà được nuôi cháu Lê Quang T2, bà không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con. Hiện bà có mở cửa hàng mua bán, sửa chữa điện thoại, thu nhập bình quân mỗi tháng khoảng 15 triệu đồng và có nhà đất do bà đứng tên, đủ điều kiện để nuôi con
Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Lê Quang V trình bày:
Ông là người trực tiếp chăm sóc cháu Lê Quang T2, ông không giao cháu cho ông bà nội chăm sóc như bà L trình bày. Hàng ngày, ông là người đưa rước con đi học, không phải để cháu tự đi như bà L và cháu trình bày. Bình thường ông có dạy dỗ cháu, nhưng không có đánh đập cháu. Ông có dạy cháu nấu ăn và những công việc hàng ngày phù hợp với lứa tuổi của cháu, tập cho cháu tính tự lập. Theo ông, việc cháu trình bày như vậy tại Tòa là do quá trình hơn hai tháng ở chung bà L dạy cháu nói. Hiện tại, ông đã có vợ khác. Giữa vợ mới của ông và cháu có quan hệ rất tốt. Ông đang làm nghề kinh doanh, sửa chữa điện thoại, thu nhập bình quân mỗi tháng trên 18 triệu đồng. Ông có nhà đất riêng do ông đứng tên. Trong quá trình nuôi con, ông vẫn tạo điều kiện cho bà L đến thăm, chăm sóc và giáo dục con chung. Vào ngày 18/6/2025, ông cho cháu về thăm bà L, sau đó bà L không cho ông đến rước con, không cho tiếp xúc cũng như gặp mặt con. Ông không đồng ý với yêu cầu thay đổi người nuôi con của bà L do bà L không đủ điều kiện về kinh tế bằng ông để nuôi con. Bà L hiện đang chăm sóc cháu Tâm A, hoàn cảnh đơn chiếc, không như ông còn có gia đình cùng chăm sóc cháu T2.
Tại phiên tòa, người làm chứng bà Thái Thị Ngọc N trình bày:
Bà buôn bán trước nhà của ông Lê Quang V. Giữa bà và ông V, bà L không có mối quan hệ bà con thân thiết hay mâu thuẫn gì. Bà làm chứng ông V rất thương yêu cháu T2. Ông V và vợ mới hay chở cháu T2 đi chơi, có mối quan hệ rất tốt với nhau. Ông V và vợ có tâm sự với bà rằng sẽ không sinh thêm con để có thời gian lo cho cháu T2.
Bà cam đoan lời khai của bà là đúng sự thật và chịu trách nhiệm về lời khai của mình.
Tại phiên tòa, người làm chứng ông Trương Đắc T1 trình bày:
Ông là hàng xóm của ông Lê Quang V. Giữa ông và ông V, bà L không có mối quan hệ bà con thân thiết hay mâu thuẫn gì. Ông làm chứng do ông hay qua nhà ông V chơi nên chứng kiến việc ông V chăm sóc con chu đáo, ông V đưa rước cháu T2 đi học, cho cháu ăn uống đầy đủ rồi ông bà nội mới rước cháu về chơi. Đối với cháu Tâm A dù không sống chung nhưng ông V cũng chăm sóc cháu rất tốt, thường xuyên chở hai cháu đi chơi.
Ông cam đoan lời khai của ông là đúng sự thật và chịu trách nhiêm về lời khai của mình.
Tại phiên tòa, người làm chứng bà Trần Thị Bích D trình bày:
Bà là hàng xóm với ông Lê Quang V. Giữa bà và ông V, bà L không có mối quan hệ bà con thân thiết hay mâu thuẫn gì. Bà làm chứng ông V chăm sóc con rất tốt. Khi gia đình bà và gia đình ông V đi chơi chung, ông V lo chu đáo cho tất cả các con, không có việc bắt hai con ông V phải nhường phần ăn cho con riêng của vợ ông V. Trước đây, khi ở với ông V cháu T2 rất lễ phép, nhưng sau khi ở chung với bà L, cháu gặp người lớn và ông bà nội không còn thưa gởi như trước nữa.
Bà cam đoan lời khai của bà là đúng sự thật và chịu trách nhiệm về lời khai của mình.
Tại bản tường thuật ngày 22/8/2025, ông Lê Bá N1 trình bày:
Hiện ông đang bán rau củ quả kế bên tiệm điện thoại của ông Lê Quang V. Ông buôn bán ở đây từ năm 2018 nên biết rất rõ việc chăm sóc con của ông V là cháu Lê Quang T2. Dưới sự chăm sóc của ông V bé T2 rất lễ phép. Ngoài sự chăm sóc của cha, bé T2 còn được ông bà nội yêu thương. Ông thấy có lúc ông V cùng ông bà nội đưa bé T2 đi chơi cùng, đó là điều hạnh phúc đối với cháu T2.
Ông cam kết những thông tin trên là đúng sự thật, nếu sai ông xin chịu mọi xử lý theo quy định pháp luật.
Tại bản tường thuật ngày 22/8/2025, ông Nguyễn Phúc L1 trình bày:
Ông là cha của bé Nguyễn Huỳnh Quốc B, bé B đang học chung trường với bé Lê Quang T2 ở Trường tiểu học G. Hàng ngày ông thấy ông Lê Quang V đưa rước cháu Lê Quang T2 đi học. Ông thấy ông V thương yêu, chăm sóc bé T2 rất chu đáo và cẩn thận.
Ông cam kết những thông tin trên là đúng sự thật, nếu sai ông xin chịu mọi xử lý theo quy định pháp luật.
Tại bản tường thuật ngày 22/8/2025, bà Nguyễn Thị Mộng N2 trình bày:
Bà là hàng xóm với bé Lê Quang T2 sinh năm 2016. Hàng ngày bà thấy bé ở với ba là ông Lê Quang V được giáo dục tốt, ăn uống đầy đủ, được ba đưa đi chơi, học võ cùng các bé chung xóm. Bà thấy ông Quang V thương yêu và chăm sóc bé T2 rất chu đáo và cẩn thận.
Bà cam kết những thông tin trên là đúng sự thật, nếu sai bà xin chịu mọi xử lý theo quy định pháp luật.
Tại bản tường thuật ngày 22/8/2025, bà Lê Tiến N3 trình bày:
Bà là hàng xóm với bé Lê Quang T2 sinh năm 2016. Hàng ngày bà thấy bé ở với ba là ông Lê Quang V được giáo dục tốt, ăn uống đầy đủ, được ba đưa đi chơi, học võ cùng các bé chung xóm. Bà thấy ông Quang V thương yêu và chăm sóc bé T2 rất chu đáo và cẩn thận
Bà cam kết những thông tin trên là đúng sự thật, nếu sai bà xin chịu mọi xử lý theo quy định pháp luật.
Tại bản tường thuật ngày 22/8/2025, bà Lê Thị B1 trình bày:
Bà là hàng xóm với bé Lê Quang T2 sinh năm 2016. Hàng ngày bà thấy bé ở với ba là ông Lê Quang V được giáo dục tốt, ăn uống đầy đủ, được ba đưa đi chơi, học võ cùng các bé chung xóm. Bà thấy ông Quang V thương yêu và chăm sóc bé T2 rất chu đáo và cẩn thận.
Bà cam kết những thông tin trên là đúng sự thật, nếu sai bà xin chịu mọi xử lý theo quy định pháp luật.
Tại bản tường thuật ngày 22/8/2025, bà Nguyễn Thị X trình bày:
Bà là hàng xóm với bé Lê Quang T2 sinh năm 2016. Hàng ngày bà thấy bé ở với ba là ông Lê Quang V được giáo dục tốt, ăn uống đầy đủ, được ba đưa đi chơi, học võ cùng các bé chung xóm. Bà thấy ông Quang V thương yêu và chăm sóc bé T2 rất chu đáo và cẩn thận.
Bà cam kết những thông tin trên là đúng sự thật, nếu sai bà xin chịu mọi xử lý theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5-Vĩnh Long có ý kiến:
Về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Các đương sự được bảo đảm quyền và nghĩa vụ của mình đúng luật định.
Về nội dung: đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giao con chung là cháu Lê Quang T2 cho bà Nguyễn Thị Mỹ L trực tiếp duôi dưỡng. Ghi nhận bà L không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ L khởi kiện ông Lê Quang V yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con. Quan hệ tranh chấp giữa bà L và ông V là tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông V đang cư trú tại xã G, tỉnh Vĩnh Long nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5-Vĩnh Long theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ L: Căn cứ theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 24 ngày 18/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, ông Lê Quang V là người trực tiếp nuôi con chung tên Lê Quang T2 sinh ngày 03/3/2016.
Bà L cho rằng ông V không chăm sóc tốt cho cháu Lê Quang T2 mà giao cho ông bà nội chăm sóc, không đảm bảo các điều kiện về sinh hoạt, ăn uống, học tập của cháu nên yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con. Ông V không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà L vì cho rằng ông là người trực tiếp chăm sóc cháu, ông vẫn đảm bảo các điều kiện về vật chất, tinh thần cho cháu.
Xét thấy, sau khi ly hôn ông V là người trực tiếp nuôi con chung. Quá trình nuôi con, ông V chăm sóc, giáo dục, đảm bảo các điều kiện cho cháu phát triển đầy đủ. Về điều kiện nuôi dạy, chăm sóc con: bà L và ông V đều có nơi sinh sống ổn định, có cửa hàng kinh doanh riêng. Tuy bà L có mức thu nhập hàng tháng không bằng ông V nhưng cũng có khoản tiết kiệm riêng, đảm bảo khả năng nuôi con. Như vậy, bà L và ông V đều có điều kiện chăm sóc, nuôi dạy con như nhau. Tuy nhiên, hiện nay cháu Lê Quang T2 đã trên 07 tuổi nên cần xem xét đến nguyện vọng của cháu theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Tại Biên bản hỏi ý kiến con trong vụ án hôn nhân gia đình ngày 21/8/2025, cháu Lê Quang T2 trình bày “Do cháu thích ở lại với mẹ nên cháu không muốn về nhà của cha, không phải mẹ bắt buộc cháu ở lại. Cháu có nguyện vọng được sống chung với mẹ do mẹ lo lắng, chăm sóc cháu nhiều hơn”. Nguyện vọng này của cháu là chính đáng nên cần được chấp nhận. Do đó, để đảm bảo lợi ích về mọi mặt của cháu T2, căn cứ theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L, giao con chung là cháu Lê Quang T2 sinh ngày 03/3/2016 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Ghi nhận việc bà L không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.
Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đồng ông V phải chịu theo quy định tại khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Từ những phân tích trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5-Vĩnh Long tham gia phiên tòa phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
- Các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ L:
Giao con chung là cháu Lê Quang T2 sinh ngày 03/3/2016 cho bà Nguyễn Thị Mỹ L trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận việc bà L không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
Vì quyền và lợi ích mọi mặt của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con
2. Về án phí: Ông V phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.
Thi hành án dân sự tỉnh V hoàn lại cho bà L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001188 ngày 03/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 5-Vĩnh Long. - TAND tỉnh Vĩnh Long. - Phòng THADS khu vực 5. - Các đương sự. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Lương Thị Thùy Dương |