vanban.org

Bản án 60/2024/HSST — Hình sự

TAND Q. Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 29/07/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Tuyên bố bị cáo Triệu Văn H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

[2]. Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g Xử phạt: Bị cáo Triệu Văn H 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố bị cáo Triệu Văn H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60 /2024/HSST
Ngày: 29 - 07 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN TP. HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Mai Thùy.

Các Hội thẩm nhân dân

1/ Bà Lê Thị Thanh Dung.

2/ Ông Trần Trọng Thái.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thị Thức – Cán bộ Tòa án

nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh tham

gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Hạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 07 năm 2024, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố

Hồ Chí Minh xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2024/TLST – HS ngày 14/6/2024 đối với bị cáo:

TRIỆU VĂN H, giới tính: nam; sinh năm 1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh;

Nơi đăng ký HKTT: 469/41N đường N, Phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: không; Con ông: Triệu Văn S (chết); Con bà: Nguyễn Thị X; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con.

Tiền sự: không.

Tiền án:

+ Ngày 18/3/2016, bị TAND quận P, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02

năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 18/10/2017, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Bị cáo khai chưa thi hành khoản nộp án phí hình sự (Công văn xác minh thi hành án số 47/XMTHA ngày 24/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận P tại bút lục số 354 trả lời: “Qua kiểm tra hồ sơ lưu trữ thi hành án, Chi cục Thi hành án dân sự quận P, Tp. Hồ Chí Minh không thụ lý hồ sơ trên”;

+ Ngày 27/3/2018, bị TAND quận P, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04

năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 26/3/2021, bị cáo chấp hành xong bản án ngày 26/3/2021 và đã đóng xong án phí hình sự sơ thẩm (Công văn xác minh thi hành án số 46/XMTHA ngày 24/01/2024 – bút lục số 355).

+ Ngày 10/11/2021, bị TAND quận G, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02

năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 10/10/2023 bị cáo chấp hành

Trang 1

xong bản án ngày 10/10/2023 và đã đóng xong án phí hình sự sơ thẩm (Công văn xác minh thi hành án số 608/THA ngày 01/3/2024 – bút lục số 356).

Nhân thân: Ngày 03/10/2012, bị UBND quận P Thành phố Hồ Chí Minh áp

dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh trong thời hạn 24 tháng; Ngày 23/8/2012 bị xử phạt 1.580.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 02/01/2024.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

1. Ông Vương Thanh N, sinh năm 2000 (vắng mặt).

Địa chỉ: 778/11 đường N, Phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bà Trần Thanh H, sinh năm 2002 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ô 12, đường N, phường V, Thành phố T, tỉnh Bình Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Triệu Văn H là đối tượng không có nghể nghiệp ổn định nên đã nhiều lần

thực hiện hành vi cướp giật tài sản của người khác để có tiền tiêu xài cá nhân, cụ thể:

Lần 1: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 02/01/2024, Triệu Văn H điều khiển xe

gắn máy biển số 59E2 – 283.52 lưu thông trên đường H, Phường N, quận P tìm người có tài sản sơ hở để cướp giật tài sản. Khi đến trước nhà số 294 đường H thì thấy bà Trần Thanh H đang ngồi trên xe gắn máy đậu trước số nhà trên, trên sàn để chân phía trước của xe máy có để 01 ba lô màu đỏ nên H dừng xe phía sau bà H để quan sát. Khi thấy bà H sơ hở, H đã điều khiển xe máy đi từ phía sau lên trước bên phải của bà H, dùng tay trái nắm giật lấy chiếc ba lô của bà H và tăng ga bỏ chạy. Trên đường tẩu thoát, H không thấy có ai truy đuổi nên đã đi về chỗ ở để cất giấu các đồ vật đã cướp được. Khi mở ba lô kiểm tra H phát hiện bên trong ba lô gồm có: 01 Ipad hiệu Apple màu xám để trong 01 bao da màu trắng có hình bông hoa; 01 ví da màu trắng bên trong có: 01 CCCD, 01 giấy phép lái xe, 02 thẻ ngân hàng, tất cả đều mang tên Trần Thanh H; số tiền 200.000 đồng; 02 cuốn vở ghi tên Trần Thanh H. Sau đó, H lấy thêm 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh, 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh, 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen do H đã cướp giật trước đó bỏ vào balo vừa mới cướp giật được của bà H rồi cất giấu tại góc nhà cạnh cầu thang ở lầu 2.

Đến khoảng 22 giờ 30 phút ngày 02/01/2024, Triệu Văn H tiếp tục điều khiển

xe gắn máy biển số 59E2 – 283.52 đi trên đường K, quận P tìm người có tài sản sơ hở để cướp giật tài sản. Đến 22 giờ 45 phút cùng ngày, khi H đi đến trước nhà số 602 đường K, Phường B, quận P thì nhìn thấy ông Nguyễn Hoàng N đang điều khiển xe gắn máy biển số 59S2 – 744.17 chở Vương Thanh N đang lưu thông phía trước cùng chiều với H. Lúc này, H nhìn thấy ông N đang sử dụng điện thoại di động và không chú ý quan sát nên H điều khiển xe máy áp sát vào bên phải xe máy của ông Nam và dùng tay trái giật điện thoại của ông N. Sau khi giật được

Trang 2

điện thoại, H tăng ga bỏ chạy nhưng bị mất thăng bằng, té ngã vào lề đường. Ngay thời điểm đó, H bị ông N và lực lượng Công an đang tuần tra làm nhiệm vụ bắt giữ và đưa về trụ sở công an phường làm việc. Qua kiểm tra, Cơ quan công an phát hiện thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu trắng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi màu xanh, 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu đen. Do đó, Cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Triệu Văn H.

Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 05/KL – HĐĐGTS

ngày 09/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Phú Nhuận kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, đã qua sử dụng có giá trị 12.333.000 đồng; 01 ốp lưng bằng nhựa, màu cam, đã qua sử dụng không có giá trị.

Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 07/KL – HĐĐGTS

ngày 17/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Phú Nhuận kết luận: 01 Ipad Pro màu xám, đã qua sử dụng có giá trị 16.667.000 đồng; 01 bao da đựng Ipad đã qua sử dụng, 01 ví nhỏ màu trắng đã qua sử dụng, 01 ba lô màu đã qua sử dụng không có giá trị.

Tổng giá trị tài sản mà Triệu Văn H đã chiếm đoạt theo 02 Kết luận định giá

tài sản nêu trên là 29.200.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, Triệu Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như

đã nêu trên.

Vật chứng của vụ án: 01 Ipad hiệu Apple màu xám để trong 01 bao da màu

trắng có hình bông hoa; 01 ví da màu trắng bên trong có: 01 CCCD, 01 giấy phép lái xe, 02 thẻ ngân hàng, tết cả đều mang tên Trần Thanh H; số tiền 200.000 đồng; 02 cuốn vở ghi tên Trần Thanh H và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax (đã thu hồi trả cho người bị hại là bà H và ông N); 01 xe gắn máy biển số 59E2 – 283.52, quần áo, nón bảo hiểm, 01 túi chéo… (thu giữ của bị cáo).

Tại bản cáo trạng số 45/CT – VKS.PN ngày 12 tháng 06 năm 2024 của Viện

kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Triệu Văn H về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d, i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận

Phú Nhuận phát biểu và kết luận cáo trạng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm d, i khoản 2 Điều 171; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội

đồng xét xử tuyên:

Tịch thu tiêu hủy đối với những vật không còn giá trị sử dụng như: quần áo,

nón bảo hiểm, 01 túi chéo…

Trang 3

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 05 cái điện thoại di động và 01 xe gắn máy hiệu

Honda Wave màu đen biển số 59E2 – 283.52 vì đây là tang vật và pH tiện phạm tội.

Bị cáo thống nhất với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý

kiến tranh luận chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ

vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại

về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện là hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách

nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và qua phần thẩm vấn công khai tại phiên tòa cùng các tài

liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ 20 giờ đến 22 giờ 45 phút ngày 02/01/2024, tại trước nhà số 292 đường H, Phường N, quận Phú Nhuận và tại trước nhà số 602 đường K, Phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh bị cáo Triệu Văn H đã sử dụng xe gắn máy biển số 59E2 – 283.52 thực hiện 02 lần hành vi cướp giật tài sản của chị Trần Thanh H và anh Vương Thanh N. Sau khi giật được tài sản bị cáo nhanh chóng tẩu thoát (vụ thứ nhất được trót lọt nhưng vụ thứ 2 thì bị phát hiện bắt giữ). Tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt của các bị hại theo 02 Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 05/KLHĐĐGTS ngày 09/1/2024 và số 07/KLHĐĐGTS ngày 17/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận Phú Nhuận kết luận có tổng giá trị là 29.200.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”. Tội phạm

và hình phạt được quy định tại Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do bị cáo sử dụng xe gắn máy làm pH tiện để đi cướp giật tài sản có thể gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người bị hại, cũng như của những người khác khi lưu thông trên đường nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” quy định tại điểm d, khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra, do bị cáo có 03 tiền án, ở lần phạm tội gần nhất bị cáo đã bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm”, chưa được xóa án tích lại tiếp tục có hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy, có căn cứ xác định cáo trạng Viện kiểm sát nhân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng quy định.

Trang 4

Về tình tiết tăng nặng: Trong ngày 02/1/2024, bị cáo đã thực hiện liên tiếp

02 vụ cướp giật (vào lúc 20 giờ tại trước nhà số 294 đường H, Phường M, quận P và vào lúc 22 giờ 45 tại trước nhà số 602 đường K, Phường B, quận P nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành

khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã thu hồi được trả lại cho các bị hại nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm

đến sức khỏe, tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân thân. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và trừng trị nghiêm khắc nhưng vì lợi ích của bản thân, bị cáo vẫn bất chấp phạm tội. Nguyên nhân là do bị cáo nghiện ma túy, không có việc làm, không có tiền tiêu xài, không tu dưỡng rèn luyện bản thân sau mỗi lần phạm tội. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo để có mức án phù hợp nhằm giáo dục, răn đe và đảm bảo công tác phòng ngừa chung cho xã hội.

. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt của chị Trần Thanh H

và anh Vương Thanh N đã được thu hồi ngay trả lại đầy đủ cho chị H và anh N. Chị H và anh N không có ý kiến yêu cầu gì khác. Như vậy, về trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong, Hội đồng xét xử không để cập giải quyết.

. Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu đen, biển số 59E2 – 283.52 thu

giữ của bị cáo do bị cáo đứng tên chủ sở hữu. Xét, đây là pH tiện phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Đối với 01 túi đeo chéo màu nâu; 01 áo sơ mi dài tay màu đen; 01 quần

Jean dài màu đen và 01 nón bảo hiểm màu xanh là những đồ vật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh, 01 điện thoại di động

hiệu Redmi màu xanh, 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen; 01 điện thoại di động Xiaomi màu đen và 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh đen thu giữ của bị cáo. Quá trình điều tra bị cáo khai nhận tất cả các điện thoại trên bị cáo đã đi cướp giật được nhưng thời gian đã lâu, bị cáo không nhớ được thời gian đã cướp giật ở đâu và của ai. Sau khi cướp giật được bị cáo đã tháo bỏ sim ra và vứt bỏ. Tại phiên tòa bị cáo lại khai các điện thoại này bị cáo cầm cố được ở chỗ chơi đá gà nên không biết là của ai. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Phú Nhuận đã tiến hành trưng cầu giám định phục hồi trích xuất dữ liệu bên trong điện thoại và cho đăng báo tìm chủ sở hữu cũng như người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan của những chiếc điện thoại này nhưng không có kết quả. Do đó, cần tịch thu toàn bộ số điện thoại này để sung quỹ Nhà nước.

Trang 5

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu trắng, 01 điện thoại di

động hiệu Iphone XS Max màu đen là vật chứng trong các nguồn tin về tội phạm do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp đang thụ lý, xác minh nên Công an quận Phú Nhuận đã bàn giao các vật chứng này cho Công an quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết theo quy định (Bút lục 318).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố bị cáo Triệu Văn H phạm tội “Cướp giật tài sản”.

[2]. Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g

khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Triệu Văn H 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn

tù tính từ ngày 02/01/2024.

[3]. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

[4]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản

3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

+ 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu đen, biển số 59E2 – 283.52,

SK:RLHJA392XPY743364, SM: JA39E3207839 đã qua sử dụng.

+ 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh;

+ 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh;

+ 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen;

+ 01 điện thoại di động Xiaomi màu đen;

+ 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh đen.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 túi đeo chéo màu nâu;

+ 01 áo sơ mi dài tay màu đen;

+ 01 quần Jean dài màu đen;

+ 01 nón bảo hiểm màu xanh.

(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng số 64/2024 ngày

11/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh).

[5]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Triệu Văn H phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[6]. Quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án để

xin xét xử phúc thẩm.

Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày

kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trang 6

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành

án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ