- Tranh chấp gì? án hình sự — "Kim Quyên Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Q phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2024/HS-ST Ngày 26-3-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Hưởng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Huỳnh Sơn Tây;
2/ Ông Nguyễn Thanh Cần.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nhâm Hoàng Long - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 21 và 26 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:
Kim Q, sinh năm 1999 tại Trà Vinh; nơi cư trú: Ấp B, xã Ln, huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 4/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kim H và bà Kim Thị Sa H1; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 20/01/2020, bị Tòa án nhân dân quân Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Quyết định số 98/2020/QĐ-TA; bị bắt, tạm giữ ngày 29/8/2023, sau đó chuyển sang tạm giam cho đến nay. Có mặt
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đỗ Thanh Vũ – Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Dương. Có mặt
Bị hại: Bà Nguyễn Diễm M, sinh năm 1993; nơi cư trú: Đường NE8, khu phố L, phường K, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 20 phút ngày 29/08/2023, Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo LX, màu đỏ đen, biển số 65H1-149.52 đi trên đường ĐT747B hướng từ ngã tư 49 thuộc khu phố 1, phường Hội Nghĩa, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương về vòng xoay Cây xăng Kim Hằng. Lúc này, Q nhìn thấy bà Nguyễn Diễm M đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario, màu xanh, biển số 60B9-637.38 đi cùng hướng phía trước, Q nhìn thấy ngăn đựng đồ phía trước bên trái xe mô tô của bà M có để một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu đen, nên Q nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại di động này. Thực hiện ý định, Q điều khiển xe mô tô chạy theo phía sau xe mô tô do bà M điều khiển, khi đến đoạn đường phía trước Công ty TNHH Kiến Đô thuộc khu phố 1, phường Hội Nghĩa, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, Q điều khiển xe mô tô chạy lên từ phía sau áp sát vào phía bên trái xe mô tô của bà M và dùng tay phải giật lấy điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A57 màu đen rồi tăng ga chạy hướng về vòng xoay Kim Hằng. Bà M điều khiển xe mô tô đuổi theo, đồng thời tri hô. Khi Q điều khiển xe mô tô bỏ chạy đến trước khu dân cư Phúc Đạt thuộc khu phố Ông Đông, phường Tân Hiệp, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương do sợ bị bắt nên Q ném điện thoại vừa cướp giật được của bà M xuống đường và bỏ chạy thêm một đoạn thì bị té ngã xuống đường. Q bị bà M cùng với người dân đi đường chạy đến khống chế, bắt giữ và giao cho Công an phường Hội Nghĩa. Công an phường Hội Nghĩa đã tiến hành lập hồ sơ ban đầu và chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên, Bình Dương thụ lý theo thẩm Q.
Vật chứng tạm giữ:
- 01 xe mô tô biển số 65H1-149.52, nhãn hiệu Yamaha Nouvo LX, màu đỏ đen, số máy 5P11311825, số khung RLCN5P110BY311827;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A57 màu đen.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 133/KL-HĐĐGTS ngày 08/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự của UBND thành phố Tân Uyên kết luận: Điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A57 màu đen, đã qua sử dụng có giá trị là 2.267.000 đồng.
Đối với xe mô tô biển số 65H1-149.52, nhãn hiệu Yamaha Nouvo LX, màu đỏ đen , số máy 5P11311825, số khung RLCN5P110BY311827 qua tra cứu do Lê Hữu Lợi, HKTT: Ấp Đông Giang A, xã Đông Bình, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ đứng tên chủ sở hữu. Ông Lợi đã bán lại xe mô tô này cho một người nhưng không làm thủ tục sang tên. Q khai mua lại xe mô tô này của một người không rõ lai lịch vào tháng 5/2023 với giá 2.500.000 đồng, khi mua thì không làm thủ tục sang tên.
Về vấn đề dân sự: Bị hại Nguyễn Diễm M yêu cầu bị cáo Q bồi thường số tiền 2.267.000 đồng do quá trình bỏ chạy Q đã ném bỏ điện thoại làm hư hỏng.
Ngày 21/3/2024, bà Kim Thị Sa Huỳnh (Mẹ bị cáo) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên số tiền 2.267.000 đồng để khắc phục thiệt hại cho bị cáo.
Cáo trạng số 43/CT-VKSTU ngày 22/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn Diễm M số tiền 2.267.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Xe mô tô biển số 65H1-149.52, nhãn hiệu Yamaha Nouvo LX, màu đỏ đen, số máy 5P11311825, số khung RLCN5P110BY311827 là phương tiện phạm tội, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước. Bị hại yêu cầu nhận lại điện thoại di động Oppo A57 nên đề nghị trả lại cho bị hại.
Ý kiến người bào chữa cho bị cáo: Thống nhất nội dung cáo trạng truy tố đối với bị cáo và luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo do bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức về pháp luật hạn chế để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố, bị cáo đồng ý trả lại số tiền đã chiếm đoạt cho bị hại; lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, tỏ thái độ ăn năn, hối hận và mong muốn được hưởng sự khoan hồng của pháp luật. Bị hại không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về các yếu tố cấu thành tội phạm: Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 08 giờ 20 phút ngày 29/08/2023, tại đoạn đường ĐT747B thuộc khu phố 1, phường Hội Nghĩa, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, bị cáo Q điều khiển xe mô tô biển số 65H1-149.52 áp sát xe mô tô của bà Nguyễn Diễm M và dùng tay phải giật 01 điện thoại di động trong ngăn đựng đồ phía trước bên trái xe mô tô của bà Nguyễn Diễm M khi bà M đang lưu thông trên đường, rồi tăng ga bỏ chạy. Thời điểm thực hiện hành vi chiếm đoạt, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tư lợi, thái độ coi thường pháp luật mà cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến Q sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo sử dụng thủ đoạn nguy hiểm để chiếm đoạt tài sản của bị hại. Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố cũng như luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình nộp tiền để bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị cáo là người dân tộc thiểu số, có nhận thức hạn chế pháp luật; tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo, sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo sử dụng ma túy đã bị đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc năm 2020.
Về mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Xét thấy mức hình phạt đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là chưa xem xét hết các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng. Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo là có căn cứ chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 2.267.000 đồng, bị cáo đồng ý.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Xe mô tô bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, phải tịch thu sung ngân sách nhà nước. Điện thoại di động Oppo A57 bị hư hỏng tuy nhiên bị hại xin nhận lại, do đó cần trả lại cho bị hại.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Q phạm tội “Cướp giật tài sản”.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Q 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/8/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 589 của Bộ luật Dân sự,
- Buộc bị cáo Q phải bồi thường thiệt hại cho bà Nguyễn Diễm M số tiền 2.267.000 đồng. Bị cáo đã tự nguyện nộp 2.267.000 đồng theo Biên lai số 0001420 ngày 21/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Bà Nguyễn Diễm M được liên hệ Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương để nhận số tiền 2.267.000 đồng (Hai triệu hai trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).
3. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:
Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: Xe mô tô biển số 65H1-149.52, nhãn hiệu Yamaha Nouvo LX, màu đỏ đen, số máy 5P11311825, số khung RLCN5P110BY311827.
- Trả lại cho bà Nguyễn Diễm M: Điện thoại di động Oppo A57.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên)
4. Về án phí sơ thẩm:
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được Q kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được Q kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - PV 06 Công an tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Tân Uyên; - Công an thành phố Tân Uyên; - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đình Hưởng |