- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2024/HS-ST Ngày: 20 - 12 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thưa.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Đảnh;
2. Ông Trần Công Mẫn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Tân và ông Nguyễn Thanh Q - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân thành phố G, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 49/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Ngô Thái B (Đ), sinh năm: 1984 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú và chỗ ở: Ấp C, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Văn Q1 và bà Phạm Thị H; Bị cáo c v và 02 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Nhân thân: Năm 2009 bị Tòa án nhân dân thị xã Gò Công (nay là Tòa án nhân dân thành phố Gò Công) xử phạt 09 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, theo Bản án số 12/2009/HSST ngày 28/5/2009; (đã x a án tích).
Bị cáo bị b t tạm gi t ngày 08/6/2024 đến ngày 17/6/2024; trong giai đoạn điều tra, truy tố thì bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, c mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Quang V – Luật sư của Văn phòng L, thuộc đoàn Luật sư tỉnh T. (c mặt)
* Bị hại: Anh Đỗ Kh c P, sinh năm 1983;
Nơi cư trú: số B B, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; (v ng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1952;
Nơi cư trú: ấp C, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang; (c mặt).
* Người làm chứng:
1. Chị Phan Thị Thu T, sinh năm 1986;
Nơi cư trú: ấp C, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang. (v ng mặt);
2. Anh Trần Quốc Q2, sinh năm 1985;
Nơi cư trú: ấp C, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang. (v ng mặt)
3. Ông Lê Minh Đ1, sinh năm 1956;
Nơi cư trú: ấp C, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang. (v ng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c t m t t như sau:
Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 07 tháng 6 năm 2024, Ngô Thái B sau khi đã c uống rư u thì trở về nhà tọa lạc tại ấp C, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang. Khi về đến nhà, B và v là chị Nguyễn Thị C nảy sinh mâu thuẫn liên quan đến vấn đề hôn nhân. Chị C bỏ đi khỏi nhà, B sau đ đi tìm chị C nhưng không gặp nên đến nhà ông Lê Minh Đ1 uống nước.
Lúc này, anh Đỗ Kh c P điều khiển xe ô tô nhãn hiệu “HYUNDAI” loại “SANTAFE” màu tr ng, biển số 51H-516.99 chở v là chị Phan Thị Thu T đến ấp C để thăm gia đình của chị T. B nhìn thấy xe 51H-516.99 chạy chậm trước đoạn đường vào nhà của B thì nghĩ xe này đến rước v của B đi như nh ng lần trước. B tức giận chạy về nhà lấy 01 (một) con dao lưỡi bằng kim loại dài 26,3 cm, cán bằng gỗ dài 16,8cm; B cầm dao trên tay phải rồi chém 01 (một) cái vào phần hông bên phải của xe 51H-516.99 gây m p méo, trầy xước. Anh P điều khiển xe đến trước nhà của ông Đ1 thì B tiếp tục dùng dao chém 01 (một) cái vào phần hông bên trái xe ô tô 51H-516.99 gây thủng, hư hỏng khu vực kính chếch sau. B tiếp tục đứng chặn trước đầu xe 51H-516.99 rồi dùng dao chém 01 (một) cái lên n p ca-bô làm thủng n p ca-bô xe.
Khi B thấy chị T bước xuống xe thì B biết đã nhằm người nên B n i lời xin lỗi đến anh P, chị T. Sau đ , anh P đến Công an xã B trình báo sự việc. Khi Công an xã B mời B về trụ sở để làm việc, bà Phạm Thị H mang con dao mà B đã sử dụng để đập phá xe 51H-516.99 giao nộp cho Công an xã B.
Theo Kết luận định giá tài sản số: 08/KL-HĐĐGTS ngày 10 tháng 6 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố G xác định giá trị thiệt hại đối với các bộ phận bị hư hỏng của xe ô tô biển số 51H-516.99 như sau:
- Kính chết sau trái trị giá 5.508.000 (năm triệu năm trăm lẻ tám nghìn) đồng;
- Pa-nen n p ca-bô trị giá 17.766.000 (mười bảy triệu bảy trăm sáu mươi sáu nghìn) đồng;
- Chất trám - Selsil PU 50 SEALANT trị giá 258.500 (hai trăm năm mươi tám nghìn năm trăm) đồng.
Tổng giá trị tài sản thiệt hại là: 23.532.500 (hai mươi ba triệu năm trăm ba mươi hai nghìn năm trăm) đồng.
Tại bản cáo trạng số: 49/CT-VKSTXGC ngày 15/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Ngô Thái B về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang vẫn gi nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
1/ Tuyên bố bị cáo Ngô Thái B phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”;
2/ Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 178, Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Ngô Thái B t 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính t ngày bị cáo chấp hành án (tr đi thời gian tạm gi t ngày 08/6/2024 đến ngày 17/6/2024).
3/ Về vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao c phần lưỡi dao bằng kim loại dài 26,3 cm, nơi rộng nhất 8,4 cm, nơi hẹp nhất 2,5 cm, phần cán dao bằng gỗ, đư c bọc kim loại hai đầu dài 16,8 cm, đường kính 3,5 cm.
4/ Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa nh ng người tham gia tố tụng không c ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Bị cáo Ngô Thái B rất ăn năn hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Luật sư bào ch a cho bị cáo trình bày: Bị cáo c nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Tại phiên tòa bị hại và người người làm chứng v ng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc v ng mặt trên không ảnh hưởng đến việc xét xử và vẫn đảm bảo quyền l i h p pháp của nh ng người này. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xét xử v ng mặt các đương sự trên.
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố G, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không c người nào c ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đ , hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều h p pháp.
. Về nội dung vụ án: Vào ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại ấp C, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang, bị cáo Ngô Thái B c hành vi cố ý dùng dao chém gây hư hỏng xe ô tô nhãn hiệu “HYUNDAI” loại “SANTAFE” màu tr ng, biển số 51H-516.99 của anh Đỗ Kh c P tại các vị trí hông xe bên phải, khu vực kính chếch sau bên trái và n p ca-pô xe. Tổng giá trị thiệt hại tài sản do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là 23.532.500 đồng.
Lời khai nhận trên của bị cáo Ngô Thái B đã phù h p với vật chứng thu gi , biên bản khám nghiệm hiện trường của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G; Kết luận định giá tài sản số: 08/KL-HĐĐGTS ngày 10 tháng 6 năm 2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố G, lời khai của người bị hại, người làm chứng, đồng thời khớp với các lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan cơ điều tra và các chứng cứ khác c trong hồ sơ vụ án.
. Với các chứng cứ tài liệu đã nêu trên, Tòa án c đầy đủ căn cứ để kết luận bị cáo Ngô Thái B đã c hành vi cố ý dùng dao chém gây hư hỏng xe ô tô nhãn hiệu “HYUNDAI” loại “SANTAFE” màu tr ng, biển số 51H-516.99 của anh Đỗ Kh c P, gây thiệt hại tài sản là 23.532.500 đồng, cho nên hành vi trên của bị cáo đã phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
. Về động cơ, mục đích, tính chất của tội phạm: Bị cáo c đầy đủ sức khỏe và năng lực hành vi, nhưng chỉ vì bản tính côn đồ, xem thường tài sản của người khác, bất chấp sự tr ng trị của pháp luật nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Hành vi phạm tội trên đây của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở h u tài sản h p pháp của công dân đư c pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương.
. Xét về nhân thân: Bị cáo B c nhân thân không tốt, đã t ng bị đưa ra xét xử.
. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Ngô Thái B đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện tác động người thân bồi thường thiệt hại, đã thực hiện nghĩa vụ quân sự cho đất nước, là lao động chính trong gia đình, c hoàn cảnh kh khăn, c người thân là người c công với Cách mạng. Cho nên bị cáo đư c hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
. Về tình tiết tăng nặng: Hành vi phạm tội của bị cáo c tính chất côn đồ do không c mâu thuẫn với bị hại, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Trên cơ sở đánh giá nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm kh c cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục răn đe và phòng chống tội phạm, đồng thời cho bị cáo nhận thức đư c hành vi phạm tội. Tuy nhiên Hội đồng xét xử cũng sẽ c xem xét khi quyết định mức hình phạt cho bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Bà Phạm Thị H là mẹ ruột của bị cáo B đã thay mặt bị cáo bồi thường xong số tiền trên cho anh P và không yêu cầu bị cáo B phải trả lại cho bà H nên không xem xét.
. Về vật chứng:
Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố G, tỉnh Tiền Giang đã tiến hành trao trả cho chủ sở h u các đồ vật, tài sản không liên quan đến vụ án là đúng quy định.
Vật chứng hiện còn tạm gi :
- 01 (một) con dao c phần lưỡi dao bằng kim loại dài 26,3 cm, nơi rộng nhất 8,4 cm, nơi hẹp nhất 2,5 cm, phần cán dao bằng gỗ, đư c bọc kim loại hai đầu dài 16,8 cm, đường kính 3,5 cm. Đây là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Cho nên cần tịch tiêu hủy là phù h p quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
. Về án phí: Bị cáo Ngô Thái B phải chịu án phí sơ thẩm theo qui định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là c cơ sở phù h p với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Tuy nhiên về mức hình phạt cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo do c nhiều tình tiết giảm nhẹ.
. Xét lời đề nghị của Luật sư bào ch a cho bị cáo là c cơ sở nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 178, Điều 38, Điều 50, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Các Điều 106; 136; 292; 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Thái B (Đ) phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Ngô Thái B 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính t ngày bị cáo chấp hành án (tr đi thời gian tạm gi t ngày 08/6/2024 đến ngày 17/6/2024).
3. Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao c phần lưỡi dao bằng kim loại dài 26,3 cm, nơi rộng nhất 8,4 cm, nơi hẹp nhất 2,5 cm, phần cán dao bằng gỗ, đư c bọc kim loại hai đầu dài 16,8 cm, đường kính 3,5 cm. Đây là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, thời gian thực hiện sau khi án c hiệu lực pháp luật.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01 tháng 11 năm 2024 gi a Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố G và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gò Công).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Ngô Thái B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án bị cáo, bị hại, người c quyền l i, nghĩa vụ liên quan đư c quyền kháng cáo bản án để Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Trường h p nh ng người v ng mặt c quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính t ngày nhận đư c bản án hoặc bản án đư c niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang; - VKSND thành phố Gò Công; - Chi cục THADS thành phố Gò Công; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang; - Cơ quan Thi hành án hình sự Tp.Gò Công; - Bộ phận THA phạt tù; - Bị cáo, Bị hại, Người c quyền l i, nghĩa vụ liên quan; - Lưu: AV, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thưa |