- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Bùi Văn Q phạm tội: “Hiếp dâm”. - phạm tội hiếp dâm (điều 141 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn Q phạm tội: “Hi p dâm .
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2024/HS-ST Ngày 05/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
* Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thành.
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Vũ văn Sâm
Bà Vũ Thị Ngân
* Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 52/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2024/HSST-QĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Bùi Văn Q, tên g i khác: không , sinh năm 1994, tại xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình
Nơi cư trú: Thôn Q, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ h c vấn: 6/12.
Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam.
Con ông Bùi Văn T, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1955.
Vợ con: Chưa có.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Bản án số 188/2022/HSST ngày 27/10/2022, Tòa án nhân dân quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù về tội: “Trộm c p tài sản , theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, chấp hành xong án phạt tù ngày 28/01/2023, thi hành xong án phí hình sự ngày 25/4/2023. Bản án số 81/2023/HSST, ngày 14/8/2023, Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm c p tài sản , theo điểm b đã bị kết án về tội này khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, chấp hành xong án phạt tù ngày 24/02/2024.
Nhân thân: Bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự…
Bị cáo bị b t tạm giam từ ngày 06/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình. Trích xuất có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1959
Địa chỉ: Thôn Q, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình (có đơn xin xét xử v ng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi tố vụ án). * Người chứng kiến:
- Chị Phạm Thị R, sinh năm 1976
- Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1978
- Anh Nguyễn văn Q1, sinh năm 1976
Đều có địa chỉ: Thôn Q, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
(Tại phiên tòa có mặt anh V; V ng mặt bà L, chị R, anh Q1).
PHẦN NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Văn Q mới chấp hành xong án phạt tù về địa phương. Sáng ngày 02/03/2024, Q c m 01 chai rượu 1,5 lít đi bộ ra khu Đ, thôn Q, xã Đ, huyện Q ngồi ở mé đường đ u nghĩa trang U. Đến 17 giờ, Q vào nghĩa trang thấy có hoa quả bưởi lễ đ t ở lăng trong khuôn viên mộ ph n c a gia đình ông Nguyễn Văn N1 và bà Nguyễn Thị H liền tr o qua tường bao xây gạch cao 0,85 mét được rào dây thép gai cao 50 cm phía bên phải theo chiều t c ng vào vào khu lăng mộ. Quan sát có một người phụ n m c ngoài áo khoác áo phao màu tím, qu n dài màu đen sau biết là bà Nguyễn Thị L đang hái lá ch phía bên trái c ng. Do đã uống rượu nên Q nảy sinh ý định giao cấu với bà L nh m th a mãn dục v ng. Để không bị phát hiện sớm, Q đi nh tới đ ng áp sát phía sau, đưa tay trái lên bịt miệng, kéo ngửa đ u bà Lơ é vào ngực. Hoảng sợ bà L kêu lên “ú, ớ . Q nói “bà im mồm, bà ra đây với tôi một tý, rồi tôi thả ra . Nói xong, Q kéo ngửa người bà L về phía sau, tay trái bịt miệng, đ ph n gáy và lưng; tay phải đ t dưới hai đ u gối chân, bế bà L đi 05 mét, t ch cây ch vào phía bên phải lăng hướng t ngoài vào trong , đ t bà L n m ngửa trên nền sân bê tông, đ u chếch phía tường bao sau lăng, chân hướng phía c ng. Q đe d a “bà nằm im, bà làm cho tôi thích rồi tôi thả bà ra đồng thời dùng hai tay kéo tụt qu n dài cạp chun và qu n lót màu đ s c trắng xanh bà Lơ m ra kh i người. Bà L sợ hãi kêu “ối làng nước ơi c u tôi với . Q dùng tay đấm liên tiếp 02 đến 03 nhát vào mạn sườn trái, gò má trái, c ng tay phải bà L, v a đấm Q v a đe d a “bà mà kêu lên thì tôi gi t bà . Bị đau, mệt bà L xin “mày tha cho tao, tao gần 70 tuổi đầu, tao bị bệnh tim, mày đánh th này thì tao ch t . Q dùng tay trái bịt miệng bà L, tay phải tụt chiếc qu n bò dài màu xám đang m c ra, quỳ gối trước m t bà L, hai tay chống xuống nền bê tông, nh m mông lên, ấn đưa dương vật đang cương c ng vào miệng bà L. Do sợ bà Lơ nhắm m1, ngậm ch t miệng, Q d ng lại dùng tay đẩy hai chân c a bà Lơ r ra, quỳ gối gi a hai chân, c m dương vật ấn vào âm đạo, thực hiện hành vi giao cấu trái với ý muốn c a bà L khoảng 03 đến 05 phút thì xuất tinh. Q rút dương vật ra đ ng dậy m c lại qu n. Bà L n m kêu đau, Q đ bà L ngồi dậy m c lại qu n. Bà L tiếp tục hô “c u tôi với . Lúc này, có bóng người đi ở đường, Q tr o qua tường bao sang khu mộ cách đó khoảng 20 mét ẩn nấp. Bà L ra c ng lăng g p chị Phạm Thị R ở cùng thôn đi làm ruộng về nên nhờ chị R g i điện cho con trai là anh Nguyễn Văn V đến đón chở về. Nhận được điện bảo bà L bị đánh anh V cùng em trai là anh Nguyễn Văn Q2 đi hai xe mô tô ra khu lăng mộ c a gia đình. Sau khi nghe bà L kể lại sự việc, anh V cùng anh Q2 vào nghĩa trang tìm nhìn thấy Q chạy t khu mộ g n đó ra đường nên đu i theo bắt gi giao cho Công an xã Đ, huyện Q. Bà L bị gãy xương sườn 7, 8, 9 bên trái, t n thương màng ph i bên trái, b m tím gò má trái, c ng tay phải được đưa đến Bệnh viện Đ, huyện Q, sau chuyển Bệnh viện đa khoa tỉnh T điều trị đến ngày 05/3/2024.
Ngày 03/3/2024, anh Nguyễn Văn V có đơn tố giác hành vi c a Bùi Văn Q. Nhận tố giác, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã tiếp nhận, tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh; quản lý c a bà L 01 qu n dài cạp chun màu đen, 01 qu n lót qu n con màu đ s c trắng xanh, 01 áo vải dài tay k caro màu đ đen, 01 áo khoác áo phao có m màu tím, 01 khăn m t vàng; quản lý c a Q 01 qu n bò dài màu xám, 01 áo len dài tay màu đen có h a tiết xanh đ ; thu gi dấu vết, m u vật để phục vụ công tác giám định. Ngày 06/3/2024, bà Nguyễn Thị L có đơn yêu c u khởi tố vụ án hình sự.
Kết luận giám định xâm hại tình dục số 05/KLXHTDPY ngày 04/3/2024 c a Trung tâm pháp y Sở Y đối với Nguyễn Thị L, kết luận: “Trên phi n đồ không thấy hình ảnh tinh tr ng, xác tinh tr ng trong dịch âm đạo. H V âm tính. Màng trinh đ rách c , vị trí 7h - 8h có v t xước đ , không chảy máu. Siêu âm tử cung buồng tr ng qua đư ng âm đạo: tử cung nh , âm cơ không đ u, niêm mạc m ng, phần phụ hai bên hiện không có khối bất thư ng, douglas không có dịch. ò má trái có v t bầm tím, kích thước (3x2,5)cm. V ng ngực trái cách n m v 3,5 cm vị trí 8h có đám bầm tím, kích thước (3x2)cm. Mông phải có đám xước da, kích thước (10x5)cm. Từ ½ dưới sau mặt ngoài cánh tay phải đ n mặt sau ngoài cẳng tay phải có đám sưng n , bầm tím, kích thước (20x15)cm. Tại th i điểm giám định bà Nguyễn Thị L không m c bệnh x hội (H V âm tính)”.
Kết luận giám định số 1623/KL-KTHS ngày 12/3/2024 c a V1 Bộ C: “Trong mẫu ghi thu trong âm đạo của bà Nguyễn Thị L gửi giám định có tinh tr ng ngư i, do số lượng ít nên không xác định được kiểu gen. Trên chi c quần lót ghi thu của bà Nguyễn Thị L gửi giám định có tinh tr ng ngư i và là tinh tr ng của B i Văn Q. Lưu kiểu gen của B i Văn Q tại V1 Bộ C .
Kết luận giám định t n thương cơ thể trên người sống số 241/KLTTCT-TTPY ngày 24/5/2024 c a Trung tâm pháp y Sở Y: “1. Các k t quả chính: y xương sư n 7, 8, 9 bên trái. Tổn thương màng phổi bên trái. 2. K t lu n: Căn c Thông tư số 22/20219/TT-B T ngày 28/8/2019 của Bộ 1 quy định t lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định: T lệ tổn thương cơ thể đối với Nguyễn Thị L tại th i điểm giám định 10% .
Quá trình điều tra bị hại bà Nguyễn Thị L yêu c u bị cáo Bùi Văn Q phải bồi thường cho bà chi phí hợp lý cho việc c u ch a và thu nhập thực tế bị mất c a người chăm sóc số tiền 4.702.600 đồng chi phí c u ch a có hóa đơn 3.202.600 đồng; thu nhập thực tế bị mất c a người chăm sóc 1.500.000 đồng . Không yêu c u bị cáo Q phải bồi thường chi phí bồi dư ng, phục hồi s c kh e, thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại.
Tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn Q đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội c a bị cáo như đã nêu trên.
Tại phiên tòa anh Nguyễn Văn V trình bày: Khoảng 17 giờ 15 phút, anh nhận được điện thoại c a chị Phạm Thị R bảo m anh bà L bị đánh nên cùng em trai là anh Nguyễn Văn Q2 đi hai xe mô tô ra khu lăng mộ c a gia đình. Sau khi nghe m anh kể lại sự việc, anh cùng anh Q2 vào nghĩa trang tìm nhìn thấy Q chạy t khu mộ g n đó ra đường nên đu i theo bắt gi giao cho Công an xã Đ, huyện Q. Sau đó, anh đưa m anh đến Bệnh viện Đ, huyện Q, sau chuyển Bệnh viện đa khoa tỉnh T chiếu chụp xác định m anh bị gãy xương sườn 7, 8, 9 bên trái, t n thương màng ph i bên trái, b m tím gò má trái, c ng tay phải điều trị đến ngày 05/3/2024 xuất viện. Ngày 03/3/2024, anh đã viết đơn tố giác hành vi c a Bùi Văn Q. Do m anh s c kh e yếu nên đã có đơn xin xét xử vắng m t và gi nguyên quan điểm khởi tố đối với Bùi Văn Q và đề nghị Tòa án xét xử theo đúng quy định c a pháp luật. Về trách nhiệm dân sự anh yêu c u bị cáo Q phải bồi thường cho m anh số tiền số tiền 4.702.600 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ gi quyền công tố tại phiên tòa v n gi nguyên Cáo trạng số 61/CT-VKSQP ngày 12/6/2024 đã truy tố, hành vi c a bị cáo Bùi Văn Q đ yếu tố cấu thành tội:“Hi p dâm” và đề nghị HĐXX:
- Về áp dụng điều luật và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 141; điểm h tái phạm khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Văn Q t 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính t ngày bị bắt tạm gi 06/3/2024.
- Về hình phạt b sung: Không áp dụng hình phạt b sung đối với bị cáo Bùi Văn Q.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị L số tiền 4.702.600 đồng.
- Ngoài ra, còn đề nghị HĐXX xem xét về vật ch ng, án phí c a vụ án theo quy định c a pháp luật.
Trong ph n tranh luận: Bị cáo Q không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo Bùi Văn Q nói lời sau cùng: Bị cáo nhận th c hành vi c a bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo gửi lời xin l i đến bị hại và gia đình bị hại và đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng m c án nh nhất.
PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung c a vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét h i, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định c a Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, th tục quy định c a Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và nh ng người tham gia tố tụng khác, không ai có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội c a bị cáo như cáo trạng đã mô tả. Phù hợp với đơn đề nghị khởi tố và biên bản ghi lời khai c a bị hại bà Nguyễn Thị L; Biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường k m bản ảnh do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập hồi 08 giờ 30 phút ngày 03/3/2024 tại nghĩa trang Đ1, thôn Q, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Biên bản thực nghiệm điều tra do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập ngày 06/3/2024 tại nghĩa trang Đ1, thôn Q, xã Đ, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Biên bản xem xét dấu vết thân thể c a Bùi Văn Q do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập ngày 03/3/2024 tại Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình; Phiếu xét nghiệm test nhanh kháng nguyên HIV1/2 c a Trung tâm y tế huyện Q ngày 05/3/2024 đối với Bùi Văn Q, kết quả: “Âm tính với HIV ; Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm gi do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập hồi 07 giờ 15 phút, 07 giờ 25 phút ngày 03/3/2024 tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T; Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm gi do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập hồi 16 giờ 30 phút, 16 giờ 45 phút ngày 04/3/2024 tại Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh Y; Biên bản làm việc; biên bản niêm phong m u tóc thu c a Bùi Văn Q do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập hồi 10 giờ 30 phút, 11 giờ, ngày 03/3/2024 tại Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình; Biên bản làm việc xem xét dấu vết trên qu n, áo thu gi , quản lý c a Bùi Văn Q do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập hồi 12 giờ 05 phút, ngày 03/3/2024 tại Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình; Kết luận giám định xâm hại tình dục số 05/KLXHTDPY ngày 04/3/2024 c a Trung tâm pháp y Sở Y đối với Nguyễn Thị L; Kết luận giám định số 1623/KL-KTHS ngày 12/3/2024 c a V1 Bộ C; Kết luận giám định t n thương cơ thể trên người sống số 241/KLTTCT-TTPY ngày 24/5/2024 c a Trung tâm pháp y Sở Y; Biên bản ghi lời khai c a người ch ng kiến chị Phạm Thị R, anh Nguyễn Văn Q2 cùng toàn bộ các tài liệu, ch ng c khác có trong hồ sơ vụ án và lời khai c a anh Nguyễn Văn V tại phiên tòa.
[2.1] Do vậy có đ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 02/3/2024, tại nghĩa trang Đ1, thôn Q, xã Đ, huyện Q, bị cáo Bùi Văn Q có lời nói đe d a, hành vi dùng tay bịt miệng, đấm vào mạn sườn trái, gò má trái, c ng tay phải, gây gãy xương sườn 7, 8, 9, t n thương màng ph i trái bà Nguyễn Thị L, làm bà L sợ hãi, không kháng cự được, để thực hiện hành vi giao cấu trái với ý muốn c a bà L nh m th a mãn dục v ng. Bị hại bà Nguyễn Thị L yêu c u khởi tố vụ án, xử lý hành vi c a bị cáo Bùi Văn Q theo đúng quy định. Vì vậy, có đ căn c xác định hành vi c a bị cáo Bùi Văn Q đã phạm vào tội: “Hi p dâm , quy định tại khoản 1 Điều 141 Bộ luật Hình sự.
“Đi u 141: Tội hi p dâm
1. Ngư i nào d ng v lực, đe dọa d ng v lực hoặc lợi dụng tình trạng
không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt t từ 02 năm đ n 07 năm.
...”.
[2.2] Xét tính chất, m c độ, hậu quả c a hành vi phạm tội c a bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội c a bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ: Đã xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, s c kh e c a người khác, thu n phong mỹ tục c a dân tộc, kéo theo sự xuống cấp c a đạo đ c xã hội, gây mất trật tự trị an, gây hoang mang lo lắng trong qu n chúng nhân dân tại địa phương. Vì vậy, c n áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra kh i đời sống xã hội một thời gian mới răn đe, giáo dục và phòng ng a tội phạm chung.
[2.3] Khi xem xét, cân nhắc hình phạt c n xem xét đến tình tiết tăng n ng và các tình tiết giảm nh :
- Về tình tiết tăng n ng: Bị cáo Bùi Văn Q đã bị kết án, chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị áp dụng tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự “Tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về các tình tiết giảm nh : Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự nên được áp dụng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Vì vậy, c n áp dụng m c hình phạt như đề nghị c a vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ đối với bị cáo là phù hợp.
[2.4] Về hình phạt b sung theo quy định tại khoản 5 Điều 141 Bộ luật Hình sự: “5. Ngư i phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm ch c vụ, cấm hành ngh hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đ n 05 năm”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, ch ng c và lời khai c a bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do nên không áp dụng hình phạt b sung đối với bị cáo.
[2.5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị L yêu c u bị cáo Bùi Văn Q bồi thường chi phí hợp lý cho việc c u ch a và thu nhập thực tế bị mất c a người chăm sóc số tiền 4.702.600 đồng chi phí c u ch a có hóa đơn 3.202.600 đồng; thu nhập thực tế bị mất c a người chăm sóc 1.500.000 đồng . Không yêu c u bị cáo Q phải bồi thường chi phí bồi dư ng, phục hồi s c kh e, thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại. Tại phiên tòa, bị cáo Q đồng ý bồi thường nhưng chưa thực hiện nghĩa vụ bồi thường. Vì vậy, cấn áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 584, 590 Bộ luật Dân sự năm 2015 buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho bà Nguyễn Thị L số tiền 4.702.600 đồng.
[3] Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với chiếc qu n dài cạp chun màu đen, áo vải dài tay k caro màu đ đen, áo khoác áo phao có m màu tím, khăn m t vàng c a Nguyễn Thị Lơ . Ngày 26/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật ch ng trả lại cho bị hại Lơ c n chấp nhận.
- Đối với chiếc qu n lót màu đ s c trắng xanh c a bị hại Lơ; qu n bò dài màu xám, áo len dài tay màu đen có h a tiết xanh đ quản lý c a bị cáo Q có đ c điểm như biên bản giao nhận vật ch ng gi a Công an huyện Q và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ ngày 14/6/2024. Bị hại bà L, bị cáo Q không đề nghị xin lại do không còn giá trị sử dụng nên c n tịch thu tiêu h y.
[4] Về án phí và quyền kháng cáo:
- Về án phí: Bị cáo Bùi Văn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo theo quy định c a pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn Q phạm tội: “Hi p dâm .
2. Áp dụng điều luật và hình phạt:
- Áp dụng khoản 1 Điều 141; điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn Q: 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính t ngày bị bắt tạm giam 06/3/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt b sung đối với bị cáo Bùi Văn Q.
3. Vê trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 584, 590 Bộ luật Dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Bùi Văn Q phải có trách nhiệm bồi thường cho bà Nguyễn Thị L số tiền là 4.702.600 (bốn triệu bẩy trăm linh hai nghìn sáu trăm) đồng.
4. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu h y: Chiếc qu n lót màu đ s c trắng xanh c a bị hại Lơ; Qu n bò dài màu xám, áo len dài tay màu đen có h a tiết xanh đ quản lý c a bị cáo Q có đ c điểm như biên bản giao nhận vật ch ng gi a Công an huyện Q và Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ ngày 14/6/2024.
5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Bị cáo Bùi Văn Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngư i được thi hành án, cho đ n khi thi hành xong, tất cả các khoản ti n hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản ti n l i của số ti n phải thi hành án theo m c l i suất quy định tại khoản 2 Đi u 468 Bộ lu t dân sự năm 2015.
Quy t định này được thi hành theo quy định tại Đi u 2 Lu t Thi hành án dân sự thì ngư i được thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự có quy n th a thu n thi hành án, quy n yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng ch thi hành án theo quy định tại các Đi u 6, 7, 7a và 9 Lu t Thi hành án dân sự; th i hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Đi u 30 Lu t thi hành án dân sự.
Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Bùi Văn Q có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án sơ thẩm 05/7/2024 . Bị hại bà Nguyễn Thị L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể t nhận được bản án ho c bản án được niêm yêt theo quy định c a pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Bình; - TAND tỉnh Thái Bình; - Sở tư pháp Thái Bình; - VKSND huyện Quỳnh Phụ; - THADS huyện Quỳnh Phụ; - Cơ quan đi u tra Công an huyện Quỳnh Phụ; - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình; - Bị cáo; Bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hoàng Văn Thành |