- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điểm h, g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TAND HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2024/HS-ST Ngày 25 tháng 06 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA
Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Thanh Thuần
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Kim Oanh
Ông Lê Thanh Miện
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Chi– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung- Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 06 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 06 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn D- Sinh năm 1993 Giới tính: nam;
Tên gọi khác: không;
Nơi cư trú: thôn Mẫu S, xã Chu Đ, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không;
Nghề nghiệp: Tự do ; Trình độ văn hóa lớp 8/12;
Họ và tên bố đẻ: Phan Văn Giáp, sinh năm 1974;
Họ và tên mẹ đẻ: Nguyễn Thị Nho, sinh năm 1974;
Vợ, con: chưa có.
Bị cáo là con duy nhất trong gia đình.
Tiền án:
- Bản án số 104/2012/HSST ngày 25/12/2012 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (ngày phạm tội 30/8/2012). Chấp hành xong án phí ngày 19/3/2013; chưa thi hành phần bồi thường dân sự cho người bị hại số tiền 1.500.000 đồng (người bị hại chưa có đơn yêu cầu thi hành án).
- Bản án số 14/2013/HSST ngày 05/3/2013 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (ngày phạm tội 29/8/2012). Tổng hợp hình phạt vời bản án số 104/2012/HSST ngày 25/12/2012 là 02 năm 03 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/12/2014. Chấp hành xong án phí ngày 18/6/2013; chưa thi hành phần bồi thường dân sự cho người bị hại số tiền 4.900.000 đồng (người bị hại chưa có đơn yêu cầu thi hành án).
- Bản án số 23/2020/HSST ngày 05/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/9/2020; chưa chấp hành phần án phí hình sự sơ thẩm (do bản án này trị giá tài sản trộm cắp dưới 2000.000 đồng nên lấy bản án số 14/2013/HSST ngày 05/3/2013 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang là tình tiết định tội.
Nhân thân: Ngày 19/02/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Chấp hành xong ngày 29/7/2022.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/5/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang ( Có mặt).
1. Bị hại.
- Anh Nguyễn Văn B– sinh năm 1985 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: TDP Trung T, thị trấn Bắc L, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang;
- Bà Trần Thị Nh– sinh năm 1954 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: thôn Ch, xã Lương Ph, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
2. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Quốc Tr– sinh năm 1970 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Số 244, đường Xương G, phường Ngô Q, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang;
- Anh Lê Văn Ph – sinh năm 1991 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: thôn Nguộn, xã Tự L, thị xã Việt Y, tỉnh Bắc Giang.
3. Người làm chứng:
Trần Quốc C- Sinh năm 1979 (Vắng mặt)
Nơi cư trú: số 244, đường Xương G, phường Ngô Q, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Dũng, sinh năm 1993, trú tại thôn Mẫu S, xã Chu Đ, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang và Trần Quốc Cường, sinh năm 1979, trú tại số nhà 244, đường Xương Giang, phường Ngô Quyền, thành phố Bắc Giang quen biết nhau do trước đây cùng đi chấp hành án phạt tù. Khoảng 14 giờ ngày 15/12/2023, Dũng đang ở bờ đê Á Lữ, thành phố Bắc Giang thì gặp Cường điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Smash màu đỏ, đeo biển kiểm soát 98M4-4337 đến. Sau đó, Dũng và Cường rủ nhau cùng đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền sử dụng ma túy và chi tiêu cá nhân. Cường điều khiển xe mô tô chở Dũng đi theo Quốc Lộ 37 hướng đi huyện Hiệp Hòa để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến địa phận cánh đồng thôn Ch, xã Lương Ph, cả hai phát hiện ở rìa đường có chiếc xe đạp điện nhãn hiệu PLANST GREN 133 màu đỏ, đen của bà Trần Thị Nhàn, sinh năm 1954 trú tại thôn Ch, xã Lương Ph, huyện Hiệp Hòa, chìa khoá điện vẫn cắm ở ổ khoá. Quan sát không có người trông coi, Dũng bảo Cường quay xe lại, đến gần vị trí chiếc xe đạp điện đứng cảnh giới, còn Dũng xuống xe mở khóa điện và điều khiển chiếc xe đạp điện tẩu thoát. Sau đó, cả hai mang chiếc xe trộm cắp được đến cửa hàng xe đạp điện Phong Ngà ở thôn Nguộn, xã Tự Lạn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang và bán cho anh Lê Văn Phong (chủ của hàng) được số tiền 900.000 đồng. Sau khi có tiền, Cường và Dũng về thành phố Bắc Giang chi tiêu hết. Đến khoảng gần 19 giờ cùng ngày, Dũng và Cường rủ nhau tiếp tục đến huyện Hiệp Hòa để trộm cắp tài sản. Khi đi qua cửa hàng kinh doanh đồ điện, thiết bị vệ sinh An Phúc của gia đình anh Nguyễn Văn Bằng, sinh năm 1985 ở tổ dân phố Trung Tâm, thị trấn Bắc Lý, huyện Hiệp Hòa, cả hai thấy cửa hàng mở cửa không có người trông coi nên Cường dừng xe cách cửa hàng khoảng 03m đứng cảnh giới, Dũng xuống xe vào trong cửa hàng lấy trộm 02 cuộn dây điện dân dụng màu vàng, mỗi cuộn dài 100mét, loại dây dẹt 2x4.0 và 01 cuộn dây điện dân dụng màu vàng dài 54mét, loại dây dẹt 2x2,5 (cả 03 cuộn dây đều dán mác Công ty cổ phần điện cơ Hà Nội Trần Phú) rồi bê ra để lên yên xe mô tô của Cường để tẩu thoát thì bị người dân phát hiện bắt giữ được Cường còn Dũng chạy thoát.
Sau đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hoà đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Cường; thu giữ 01 xe mô tô Smash màu đỏ, đeo biển kiểm soát 98M4-4337; 03 cuộn dây điện Dũng và Cường trộm cắp; 01 điện thoại di động Nokia; 01 căn cước công dân mang tên Trần Quốc Cường.
Tại Kết luận định giá tài sản số 79/KL-HĐĐGTS ngày 21/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hiệp Hòa kết luận: 02 cuộn dây điện dân dụng màu vàng, dán mác Công ty cổ phần điện cơ Hà Nội Trần Phú, loại dây dẹt 2x4.0, tổng chiều dài mỗi cuộn là 100mét tại thời điểm tháng 12/2023 chưa qua sử dụng có giá 6.000.000 đồng; 54mét dây điện dân dụng màu vàng, dán mác Công ty cổ phần điện cơ Hà Nội Trần Phú, loại dây dẹt 2x2.5 tại thời điểm tháng 12/2023 chưa qua sử dụng có giá 1.080.000đồng. Tổng giá trị các tài sản: 7.080.000 đồng (bảy triệu không trăm tám mươi nghìn đồng)
Tại Kết luận định giá tài sản số 80/KL-HĐĐGTS ngày 21/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hiệp Hòa kết luận: Chiếc xe đạp điện màu đỏ đen, không có biển kiểm soát, nhãn hiệu PLANST GREN 133M đã qua sử dụng tại thời điểm tháng 12/2023 có giá 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng)
Ngày 22/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Trần Quốc Cường về tội “Trộm cắp tài sản”. Tại bản án số 45/2024/HS-ST ngày 23/4/2024, Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa đã tuyên phạt Cường 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Ngày 04/5/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hoà đã ra lệnh bắt bị cáo Nguyễn Văn Dđể tạm giam. Quá trình điều tra, truy tố, Nguyễn Văn Dthành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản cáo trạng số 56/CT-VKS-HH ngày 24 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Dvề tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố; Bị cáo biết mình đã sai, mong hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và một số tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1; Điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự Xử:
1.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Dtừ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.Thời hạn tù tình từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 04/5/2024.
2.Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.
3.Về vật chứng của vụ án: Đã được xử lý, giải quyết tại bản án số:45/HS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Đề nghị tuyên quyền kháng cáo;
Bị cáo Dũng nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về sự vắng mặt của Bị hại; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; Người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ vắng mặt, tuy nhiên đã có đầy đủ lời khai của họ trong hồ sơ, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 292; Khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Về tội danh: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Văn Dcó mặt tại phiên tòa đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; lời khai của bị hại; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:
Trong ngày 15/12/2023, trên địa bàn huyện Hiệp Hoà, Nguyễn Văn Dcùng với Trần Quốc Cường sinh năm 1979 trú tại số nhà 244, đường Xương Giang, thành phố Bắc Giang đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe đạp điện nhãn hiệu PLANST GREN 133M trị giá 900.000 đồng của bà Trần Thị Nhàn, sinh năm 1954 ở thôn Ch, xã Lương Ph, huyện Hiệp Hòa và trộm cắp 03 cuộn dây điện trị giá 7.080.000 đồng của anh Nguyễn Văn Bằng, sinh năm 1985 ở tổ dân phố Trung Tâm, thị trấn Bắc Lý, huyện Hiệp Hòa. Tổng trị giá các tài sản Dũng và Cường đã trộm cắp là 7.980.000 đồng (bảy triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng).
Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa truy tố bị cáo về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Chỉ vì lợi ích trước mắt, bị cáo đã phạm tội chiếm đoạt tài sản của người khác, bị cáo là người có có tiền án về tội “ Trộm cắp tài sản” thuộc trường hợp tái phạm và là người có nhân thân xấu, chứng tỏ bị cáo là con người cói thường pháp luật. Do vậy cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội hai lần trở lên và tái phạm theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình Điều tra và xét xử tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, ăn năn, hối cải. Do vậy, bị cáo được được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những nhận định trên đây, thấy cần phải có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích và biết tuân thủ pháp luật.
Xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, cần được chấp nhận.
Bị cáo đang bị tạm giam, cần tiếp tục tạm giam để đảm bảo việc thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.
Đối với vật chứng của vụ án: Đã được xem xét giải quyết tại bản án số: 45/HS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điểm h, g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự:
Tuyên Xử:
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D01(một) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.Thời hạn tù tình từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 04/5/2024.
3. Về vật chứng: Đã được xem xét giải quyết tại bản án số:45/HS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Nguyễn Văn Dphải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5.Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự,
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc hợp lệ niêm yết bản án.
6. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự ./
| Nơi nhận: - VKSND huyện Hiệp Hòa; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - TAND tỉnh Bắc Giang; - Sơ tư pháp tỉnh Bắc Giang; - CQĐT,CQTHAHS CA huyện Hiệp Hòa; - THADS huyện Hiệp Hòa; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - Người tham gia tố tụng; - UBND xã Chu Diện, Lục Nam; - Lưu HS, VP. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Thanh Thuần THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thanh Thuần |