- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Minh N - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Minh N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2024/HS-ST Ngày 27/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Thảo Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tống Văn Tư
Ông Phạm Trung Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/HSST-QĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Phan Minh N, (tên gọi khác: B), sinh 25/4/2003, tại Tp. Cần Thơ; CCCD: 092203009492; Nơi cư trú: Ấp T, xã G, huyện P, Tp. C; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Lâm (không rõ năm sinh) và bà Phan Thị Tuyền, sinh năm 1975; Anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án; Tiền sự: Không.
Đặc điểm nhân thân:
Ngày 12/12/2019, bị Công an Tp. Cần Thơ phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 06/02/2020.
Bản án số 57/2020/HSST, ngày 25/8/2020 của Tòa án nhân dân Tp. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 23/12/2020.
Bản án số 67/2020/HSST, ngày 30/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, Tp. Cần Thơ xử phạt 09 tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Bản án số 99/2021/HSST, ngày 24/6/2021 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, Tp. Cần Thơ xử phạt 01 năm 03 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt 09 tháng tù của Bản án số 67/2020/HSST ngày 30/12/2020, của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, Tp. Cần Thơ, chấp hành xong bản án ngày 23/12/2022.
Bản án số 121/2023/HSST, ngày 03/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, Tp. Cần Thơ xử phạt 02 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bản án số 86/2023/HSST, ngày 24/8/2023 của Tòa án nhân dân Tp. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 01 năm 10 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bản án số 65/2023/HSST, ngày 16/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền xử phạt 02 năm 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chưa chấp hành xong.
Bản án số 101/2023/HSST, ngày 24/11/2023 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, Tp. Cần Thơ xử phạt 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt 02 năm tù của Bản án số 121/2023/HSST, ngày 03/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, Tp. Cần Thơ; 01 năm 10 tháng tù của Bản án số 86/2023/HSST, ngày 24/8/2023 của Tòa án nhân dân Tp. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, tổng hợp hình phạt chung là 04 năm 10 tháng tù, chưa chấp hành xong.
Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an Tp. Cần Thơ, (Bị cáo có mặt).
Người bị hại:
Anh Lê Văn Minh T, sinh năm 2005 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Ấp 4, xã A, huyện C, tỉnh T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Lê Thạch M, sinh năm 1974 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Ấp 4, xã A, huyện C, tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn Bến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 12/4/2023, anh Lê Văn Minh T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Sonic 150R, màu đen đỏ, Bển số 63D1-303.03 của ông Lê Thạch M, sinh năm 1974, cư trú ấp 4, xã An Thái Trung, huyện Cái Bè đến quán “Sành” tại ấp Thái Hòa, xã An Thái Đông, huyện Cái Bè để uống nước với bạn. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, Phan Minh N điều khiển xe mô tô hiệu Suzuki, Raider màu đỏ, dán tem Satria, không gắn Bển số đến quán cùng uống nước với T. Trong lúc nói chuyện, N thấy xe mô tô hiệu Honda Sonic 150R còn mới có giá trị nên nảy sinh ý định chiếm đoạt làm phương tiện đi lại, N giả vờ hỏi mượn xe của anh T đi mua đồ ăn, đồng thời để lại chìa khóa xe mô tô của N cho anh T giữ làm tin rồi điều khiển xe của anh T đi về nhà của N ở Tp. Cần Thơ. Sáng ngày 13/4/2023 N điều khiển xe đến xã Giai Xuân, huyện Phong Điền thì bị Công an huyện Phong Điền tạm giữ xe vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Theo kết luận định giá tài sản số 68 ngày 14/6/2023 của Hội đồng định giá trong tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cái Bè: Xe mô tô hiệu Honda Sonic 150R, màu đen đỏ, Bển số 63D1-303.03, tỷ lệ còn lại 90%, trị giá 58.500.000 đồng.
Vật chứng vụ án gồm: Xe mô tô hiệu Honda Sonic 150R, màu đen đỏ, Bển số 63D1-303.03, xe mô tô hiệu Suzuki, Raider màu đỏ, dán tem Satria, không gắn Bển số.
Xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả xe mô tô hiệu Honda Sonic 150R, màu đen đỏ, Bển số 63D1-303.03 cho chủ sở hữu. Đối với xe mô tô hiệu Suzuki, Raider màu đỏ, dán tem Satria, không gắn Bển số, đây là tài sản của anh Nguyễn Thanh Điền, sinh năm 2004, cư trú ấp Mỹ Phụng, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, Tp. Cần Thơ do N chiếm đoạt ngày 10/3/2023, Cơ quan điều tra đã bàn giao xe mô tô trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phong Điền để xử lý trong vụ án khác.
Trách nhiệm dân sự: Ông Lê Thạch M đã nhận lại xe mô tô Bển số 63D1-303.03, ông Móc và anh T không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Tại Cáo trạng số 25/CT-VKSCB ngày 25/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè tuy tố Phan Minh N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng, đồng thời phân tích, đánh giá tính chất của vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55, Điều 56, Điều 107 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Phan Minh N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, xử phạt từ 03 năm đến 04 năm tù.
Đề nghị tổng hợp hình phạt 02 (Hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 121/2023/HS-ST ngày 03/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, Tp. Cần Thơ; 01 (Một) năm 10 (Mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 86/2023/HS-ST ngày 24/8/2023 của Tòa án nhân dân Tp. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long; 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 65/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, Tp. Cần Thơ và 01 (Một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 101/2023/HSST ngày 24/11/2023 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, Tp. Cần Thơ. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cái Bè, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tòa án đã triệu tập, tống đạt hợp lệ cho người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng những người này vắng mặt, tuy nhiên trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử, căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Tại phiên tòa Phan Minh N thừa nhận: Khoảng 19 giờ ngày 12/4/2023, tại ấp Thái Hòa, xã An Thái Đông, huyện Cái Bè bị cáo dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt xe mô tô hiệu Honda Sonic 150R, màu đen đỏ, Bển số 63D1-303.03, trị giá 58.500.000 đồng của anh Lê Văn Minh T. Lời khai nhận trên của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè truy tố Phan Minh N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân. Bị cáo phạm tội với lỗi cố trực tiếp, vì bị cáo là người có năng lực nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng khi nhìn thấy xe mô tô Honda Sonic 150R, màu đen đỏ, Bển số 63D1-303.03 của anh T còn mới và có giá trị thì bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt, mục đích để sử dụng và thỏa mãn sở thích đam mê xe. Để đạt được mục đích chiếm đoạt xe, bị cáo giả vờ hỏi mượn xe mô tô của anh T đi mua đồ ăn, được anh T đồng ý giao xe thì bị cáo điều khiển xe về thành phố Cần Thơ rồi cắt đứt liên lạc với anh T. Mặc khác, bị cáo có nhân thân xấu từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành trộm cắp tài sản. Năm 2020 bị cáo bị Tòa án xử phạt về tội “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đã được xóa án tích, từ năm 2021 bị cáo 04 lần bị Tòa án xử phạt tội “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” chưa chấp hành xong hình phạt. Điều này chứng tỏ bị cáo có thái độ xem thường pháp luật, nhiều lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác mà không sợ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nên cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo N có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả xe mô tô hiệu Honda Sonic 150R, màu đen đỏ, Bển số 63D1-303.03 cho chủ sở hữu. Đối với xe mô tô hiệu Suzuki, Raider màu đỏ, dán tem Satria, không gắn Bển số, đây là tài sản của anh Nguyễn Thanh Điền, sinh năm 2004, cư trú ấp Mỹ Phụng, xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, Tp. Cần Thơ do N chiếm đoạt ngày 10/3/2023, Cơ quan điều tra đã bàn giao xe mô tô trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phong Điền để xử lý trong vụ án khác.
Trách nhiệm dân sự: Xe mô tô Bển số 63D1-303.03 là của ông Lê Thạch M cho anh T mượn, ông Móc đã nhận lại xe nên ông Móc và anh T không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử.
Bị cáo Phan Minh N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Phan Minh N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phan Minh N 03 (Ba) năm tù.
Tổng hợp hình phạt 02 (Hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 121/2023/HS-ST ngày 03/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, Tp. Cần Thơ; 01 (Một) năm 10 (Mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 86/2023/HS-ST ngày 24/8/2023 của Tòa án nhân dân Tp. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long; 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 65/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, Tp. Cần Thơ và 01 (Một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 101/2023/HSST ngày 24/11/2023 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, Tp. Cần Thơ. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 10 (Mười) năm 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/4/2023.
2. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phan Minh N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND Cái Bè; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - CCTHADS Cái Bè; - Công an huyện Cái Bè; - Cơ quan THAHS; - Người tham gia tố tụng; - UBND xã; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Thảo Lan |