vanban.org

Bản án 60/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Nam Tuyên án 06/03/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/03/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phan Công N, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 53/2023/HS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam về hình phạt.

Bị cáo Phan Công N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HSPT Phan Công Nghĩa - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phan Công N, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 53/2023/HS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam về hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/HS-PT
Ngày: 06 - 3 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Phú.

Các Thẩm phán:

Ông Đinh Tấn Long

Bà Võ Thị Minh Phượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 213/2023/TLPT-HS ngày 12 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Phan Công N. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 53/2023/HS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.

- Bị cáo có kháng cáo: Phan Công N, sinh năm 1986, tại: Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ 3, Thôn Duy Hà, xã Bình Dương, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Công Lễ, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị Minh, sinh năm 1966; có vợ là Trịnh Thị Phượng, sinh năm 1997; bị cáo có 02 con (con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 04/7/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk xử phạt 01 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích" (đã được xóa án tích).

Bị cáo hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Hà Văn T, sinh năm 1989. Trú tại: Thôn 6, xã Bình Dương, huyện Thăng Bình, Quảng Nam. Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Phan Công Lễ, sinh năm 1961. Có mặt.

2. Ông Hà Văn Đoàn, sinh năm 1964. Vắng mặt.

Cùng trú tại: Thôn Duy Hà, xã Bình Dương, huyện Thăng Bình, Quảng Nam.

- Người làm chứng:

1. Bà Trịnh Thị Phượng, sinh năm 1977. Vắng mặt.

2. Bà Nguyễn Thị Minh, sinh năm 1966. Vắng mặt.

3. Bà Lê Thi Dan, sinh năm 1990. Vắng mặt.

Cùng trú tại: Thôn Duy Hà, xã Bình Dương, huyện Thăng Bình.

4. Ông Lê Quốc Phúc, sinh năm 1994. Vắng mặt.

5. Ông Trần Trọng Quý, sinh năm 1993. Vắng mặt.

Cùng trú tại: Thôn Bình Tân, xã Bình Minh, huyện Thăng Bình, Quảng Nam.

- Người bào chữa cho bị cáo Phan Công N: Ông Bùi Bá Dũng – Luật sư Văn phòng Luật sư Hoàng Hà thuộc đoàn Luật sư tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Công N và anh Hà Văn T là hàng xóm, nhà ở đối diện nhau tại: Tổ 3, thôn Duy Hà (Thôn 6 cũ), xã Bình Dương, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Khoảng 19 giờ ngày 25/01/2018, Phan Công N điều khiển xe mô tô chở vợ và con Nghĩa đi từ quán cơm của nhà Nghĩa về (quán cơm cách nhà Nghĩa khoảng 100m) thì gặp anh Hà Văn T đang đứng trước cổng nhà anh T. Lúc này, anh T có lời nói gây sự với Nghĩa nhưng Nghĩa không nói gì và đi vào nhà đóng cổng lại. Khoảng 30 phút sau, ông Phan Công Lễ (cha của Nghĩa) đẩy xe rùa chở nước cơm về. Khi ông Lễ về đến trước cổng nhà mình thì gặp anh Hà Văn T. Anh T nói ông Lễ trả gạch cho nhà anh T do trước đây ông Lễ có mượn gạch nhưng chưa trả. Ông Lễ nói lại là đã trả gạch cho nhà anh T rồi thì hai bên xảy ra cãi vã với nhau. Lúc này, ông Hà Văn Đoàn (cha của anh T) đi mua thuốc lá về thấy anh T và ông Lễ cãi nhau nên ông Đoàn đi tới cãi nhau và xảy ra xô xát, ôm vật với ông Lễ. Phan Công N ở phòng khách trong nhà nghe Tg ông Lễ la lớn ngoài đường nên Nghĩa chạy ra cổng nhìn thấy ông Đoàn và ông Lễ đang ôm vật, xô xát với nhau ở mép đường bê tông, sát hàng rào lưới sắt B40 nhà anh T. Nghĩa khai thấy anh em nhà T đứng quanh ông Lễ, anh T đang cầm trên tay một con dao và hô chém chết ông Lễ (nhưng anh T khai anh T không cầm dao và chỉ cùng anh Lê Quốc Phúc (là em vợ của anh Hà Văn T) và anh Trần Trọng Quý (là bạn của anh Lê Quốc Phúc) đi uống cà phê về thấy xô xát nên đến đứng xem chứ không tham gia đánh ông Lễ). Thấy vậy, Phan Công N chạy vào trong vườn nhà mình lấy một đoạn tre khô dài 1,74m hình trụ tròn, đường kính 8,5cm cầm trên hai tay chạy ra đường đánh mạnh một cái trúng vào vùng đỉnh đầu bên trái của anh Hà Văn T gây thương tích. Sau đó Nghĩa vứt đoạn tre và bỏ chạy vào nhà gọi điện báo Công an xã Bình Dương đến giải quyết. Lúc này mọi người can ngăn ông Lễ và ông Đoàn ra. Anh T, ông Lễ và ông Đoàn bị thương tích được đưa đi cấp cứu.

- Tại Bản giám định thương tích số 178/GĐTT.18 ngày 21/5/2018 của Trung tâm Pháp y tỉnh Quảng Nam xếp tỉ lệ thương tích của anh Hà Văn T là 25%. Cụ thể: Vùng đỉnh bên trái có vết rách dập da đã lành sẹo dài 3,8cm, rộng 0,2cm (nứt xương sọ trán trái, dập não tụ máu nhu mô trán trái, tụ khí máu dưới màng cứng trán trái, tụ máu liềm não). Vết thương do vật tày có cạnh tác động gây nên.

- Tại Bản giám định thương tích số 185/GĐTT.18 ngày 31/5/2018 của Trung tâm Pháp y tỉnh Quảng Nam xếp tỉ lệ thương tích của Phan Công Lễ là 10%. Cụ thể:

+ Môi trên, tương ứng răng R1.1, R2.1 có vết rách dập niêm mạc đã lành sẹo dài 1cm, rộng 0,2cm; vết thương do vật tày có diện giới hạn tác động gây nên;

+ Mặt sau trong đoạn 1/3 dưới cẳng tay trái có vết rách da, cơ; vết thương do vật sắc cạnh gây nên.

+ Bàn tay phải có vết rách da, cơ từ mặt mu đầu xa xương bàn I đến mặt trong khớp đốt 1, 2 ngón I đã lành sẹo dài 4,5cm, rộng 0,1cm. Tê bì mặt mu ngón I bàn tay phải, khớp bàn ngón I hơi gồ lên. Vận động gấp, duỗi và dạng ngón I được bình thường, khép ngón I còn hạn chế nhẹ, đối chiếu ngón I với ngón V được nhưng còn khó khăn. Vết thương do vật sắc cạnh gây nên.

+ Gan bàn tay phải, trên nền mô út có vết rách da nông đã lành sẹo dài 2,8cm, rộng 0,1cm. Vết thương do vật sắc cạnh gây nên. Vết thương mặt sau trong đoạn 1/3 dưới cẳng tay trái gây đứt gân duỗi cổ tay trụ trái đã được phẫu thuật khâu nối gân ổn định. Vết thương ngón I bàn tay trái gây đứt gân duỗi ngón I đã được phẫu thuật khâu nối gân duỗi, khâu phục hồi bao khớp tạm ổn.

- Tại Bản giám định thương tích số 177/GĐTT.18 ngày 21/5/2018 của Trung tâm Pháp y tỉnh Quảng Nam xếp tỉ lệ thương tích của Hà Văn Đoàn là 07%. Cụ thể: 01 vết rách da vùng trán trái đã lành sẹo dài 04cm, rộng 0,1cm; 01 vết rách da ở mu bàn tay trái trên nền đốt 1 ngón III đã lành sẹo dài 1,5cm, rộng 0,1cm và vết rách da ở thắt lưng

- hông bên trái đã lành sẹo dài 10,5cm, rộng 0,1cm. Các vết thương đều do vật sắc cạnh gây nên.

Với nội dung vụ án như trên, tại bản án hình sự sơ thẩm số: 53/2023/HS-ST ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Phan Công N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Phan Công N 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Vào ngày 06/9/2023, bị cáo Phan Công N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại bản án để đảm bảo quyền lợi cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phan Công N về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan. Đồng thời, đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xem xét nhân thân để làm căn cứ xử phạt bị cáo mức án 01 năm tù là có cơ sở, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng. Cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh bị cáo là cháu của Mẹ VNAH (bà Lê Thị Ta) và cháu của các Liệt sĩ (ông Phan Anh Hào và Phan Anh Dũng). Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm hình phạt cho bị cáo từ 03 tháng đến 06 tháng tù.

Người bào chữa cho bị cáo Phan Công N trình bày luận cứ bào chữa: Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội trong lúc bị kích động tinh thần, vụ án đã xảy ra quá lâu, trong khoảng thời gian này bị cáo chấp hành tốt pháp luật, không vi phạm gì. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo Phan Công N tranh luận: Do bị hại Hà Văn T và gia đình đánh cha của bị cáo nên bị cáo mới đánh lại, đề nghị Hội đồng xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm để đảm bảo quyền lợi cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Phan Công N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Xét đơn kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định theo đúng quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên kháng cáo của bị cáo là hợp pháp.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phan Công N khai: Khi bị cáo về nhà thì thấy nhà anh Hà Văn T đang nhậu đông người và anh T gọi bị cáo lại nhưng bị cáo không dừng lại mà chạy luôn về nhà. Lúc bị cáo đang ngồi ở phòng khách thì thấy cha mình là ông Phan Công Lễ đẩy xe rùa vừa vào đến cổng thì bị anh T và ông Hà Văn Đoàn (cha của anh T) xông vào đánh và kéo cha bị cáo ra đường bê tông trước nhà. Lúc đó bị cáo gọi điện cho Công an xã và sau đó nghe cha bị cáo la kêu cứu. Bị cáo chạy ra thì nhìn thấy anh T đang cầm trên tay con dao dài và có nhiều người đòi giết cha bị cáo nhưng bị cáo không thấy anh T đánh cha bị cáo và bị cáo lúc đó cũng không thấy cha bị cáo ở vị trí nào. Bị cáo bức xúc nên chạy trở vào trong sân nhà mình lấy một cây tre dài và chạy ra đánh một cái không xác định đánh ai. Mục đích của bị cáo là giải cứu cho cha mình. Sau khi đánh xong bị cáo vứt cây tre và chạy vào nhà gọi báo Công an đến giải quyết. Sự việc này có nhiều người chứng kiến nhưng không được điều tra làm rõ. Đồng thời, thương tích trên người ông Lễ có vết thương do vật sắc cạnh gây nên tương ứng với cái rựa làm đứt gân cơ nhưng các cơ quan T hành tố tụng lại cho rằng do quá trình vật lộn với ông Hà Văn Đoàn gây ra là phi lý, trái pháp luật. Bị cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án để đảm bảo quyền lợi cho bị cáo.

Xét lời khai nại của bị cáo Phan Công N, Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo bị cáo Nghĩa khai khi bị cáo nghe cha của mình là ông Phan Công Lễ kêu la, bị cáo đi ra quan sát thì thấy anh Hà Văn T có cầm dao còn ông Hà Văn Đoàn là cha của anh T và cha của bị cáo (Phan Công Lễ) đang ôm vật, xô xát với nhau ở mép đường bê tông, sát hàng rào B40 nhà anh T. Thấy vậy, bị cáo chạy về nhà cầm đoạn tre chạy ra đánh mạnh 01 cái trúng vào đầu của anh Hà Văn T. Tuy nhiên, quá trình điều tra bị hại anh Hà Văn T khai không có dùng dao gây thương tích cho ông Lễ và ông Lễ khai cũng không thấy T gây thương tích cho mình. Các nhân chứng là ông Hà Văn Đoàn, Lê Quốc Phúc, Trần Trọng Quý cũng khai không nhìn thấy anh T đánh ông Lễ. Một số nhân chứng mà bị cáo cho rằng không T hành lấy lời khai thì quá trình điều tra do những người này ở các tỉnh khác tới ở trọ nên không biết tên tuổi địa chỉ, hiện nay họ đã đi khỏi nơi trọ nên không thể ghi lời khai. Mặc khác, bị cáo Nghĩa khai không nhìn thấy anh T dùng dao chém ông Lễ mà chỉ thấy anh T có cầm dao trước đó. Quá trình điều tra xác định, khi bị cáo cầm đoạn tre đánh anh T thì anh T đang đứng và không tham gia đánh ông Phan Công Lễ. Từ những phân tích nêu trên, đối chiếu với lời khai của bị cáo, bị hại, người liên quan, người làm chứng hoàn toàn phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định thương tích, và các chứng cứ khác do cơ quan điều tra chứng minh có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 25/01/2018, tại Tổ 3, thôn Duy Hà, xã Bình Dương, huyện Thăng Bình, bị cáo Phan Công N đã có hành vi cố ý dùng một đoạn tre khô (là hung khí nguy hiểm) đánh 01 phát vào đầu anh Hà Văn T, gây thương tích cho anh T với tỉ lệ là 25% nên bản án bản án hình sự sơ thẩm số 53/2023/HS-ST ngày 22/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam đã kết án bị cáo Phan Công N về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét mức hình phạt của bị cáo Phan Công N, thì thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xem xét nhân thân để làm căn cứ xử phạt bị cáo Phan Công N 01 năm tù, mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị truy tố là có cơ sở, đúng pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng và cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh bị cáo là cháu của Mẹ VNAH (bà Lê Thị Ta) và cháu của các Liệt sĩ (ông Phan Anh Hào và Phan Anh Dũng). Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới phát sinh quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm có cơ sở để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 04/7/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk xử phạt 01 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích" , tuy đã được xóa án tích nhưng bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp nghiêm trọng nên không đủ điều kiện được hưởng án treo, do đó, không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo.

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo Phan Công N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phan Công N, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 53/2023/HS-ST ngày 22 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam về hình phạt.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Phan Công N 06 (Sáu) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

2. Bị cáo Phan Công N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 06/3/2024).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Nơi nhận:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- Các cơ quan T hành tố tụng;

- Những người tham gia tố tụng;

- Phòng PV06 Công an tỉnh Quảng Nam;

- Phòng HSNV Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu Tòa Hình sự.

Huỳnh Văn Phú

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Văn Phú

Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Tăng Trung, Nguyễn Như Tiền không cung cấp chứng cứ mới về giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo Đặng Quang Hùng cung cấp chứng cứ mới là có bà ngoại (bà Hồ Thị Ngân) có công cách mạng; nộp phạt 20.000.000 đồng, nộp án phí 200.000 đồng. Bị cáo Ngô Văn Minh Hoàng cung cấp đơn xin cứu xét, có cha (ông Ngô Phận) là người có thành tích được tặng bằng khen, bị ốm đau, vợ thường ốm đau, bản thân là lao động chính. Tuy nhiên, xét mức án mà Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với các bị cáo là phù hợp và không nặng nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Ngô Đức Thắng, Trần Văn Bình không cung cấp chứng cứ mới về giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo Trần Thị Minh Phượng cung cấp chứng cứ mới là đã nộp phạt 10.000.000 đồng, nộp tiền án phí sơ thẩm 200.000 đồng. Tuy nhiên, xét mức án mà Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với các bị cáo là phù hợp và không nặng nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Trần Văn Vương, Nguyễn Viết Hiếu, Nguyễn Văn Phúc đều cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới: bị cáo Trần Văn Vương cung cấp Đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình nuôi mẹ già và 02 con nhỏ đang tuổi ăn học. Bị cáo Nguyễn Văn Phúc cung cấp chứng cứ bị cáo được UBND thị trấn Sịa, huyện Quảng Điền tặng Giấy khen đã có nhiều thành tích trong công tác vận động ủng hộ quỹ vì người nghèo năm 2021, chú ruột là liệt sĩ. Bị cáo Nguyễn Viết Hiếu đã nộp số tiền 14.200.000 đồng (10.000.000 đồng tiền phạt bổ sung; 4.00.000 đồng tiền thu lợi bất chính và 200.000 đồng tiền án phí sơ thẩm), mẹ bị bệnh nặng, Đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình nuôi con nhỏ, vợ đã ly hôn, mẹ bị bệnh nặng. Tuy nhiên, xét thấy mức án mà Toà sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là không nặng, đảm bảo nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong vụ án có đồng phạm nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

Cỡ chữ