- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "t/c ly hôn giữa anh H và chị D"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu hởi iện của nguyên đơn anh M Nguyễn Thanh H về việc “Tranh chấp ly hôn” với đối với bị đơn chị Nguyễn Thị Kim D. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP Đ.
- Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 60/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23/8/2024 V/v: “Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Bà Dương Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Mai Lương Anh
Ông Mai Phú
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ng c Hoàng Anh – Thư Tòa án nhân dân thành phố Đà L t, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Đ t - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, t i Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà L t, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công hai vụ án thụ l số: 670/2023/TLST-HNGĐ ngày 09/10/2023 về việc “Tranh chấp ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 76/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/7/2024; Quyết định hoãn phiên tòa sơ thẩm số 98/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà L t giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Mai Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1980;
Địa chỉ: Tổ E, thôn Đ, xã X, thành phố Đ.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Kim D, sinh năm: 1983;
Địa chỉ: Tổ E, thôn Đ, xã X, thành phố Đ.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Ngân hàng TMCP Đ.
Địa chỉ trụ sở: Tháp B, số C H, phường L, quận H, Hà Nội. Địa chỉ hiện nay: Tháp B, số A T, phường L, quận H, Hà Nội.
Người đ i diện hợp pháp:
1/ Ông Phan Đức T – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
2/ Ông Đặng Xuân H1 – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh tỉnh L là người đ i diện theo ủy quyền theo Quyết định ủy quyền tham gia tố tụng số 963/QĐ-BIDV ngày 25/10/2021 của Ngân hàng TMCP Đ.
Ông Đặng Xuân H1 ủy quyền lại cho:
Anh Hoàng Đức T1 – Chức vụ: Giám đốc phòng G thuộc Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh tỉnh L.
Ông Đinh Tuấn A – Chức vụ: Phó Giám đốc phòng G thuộc Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh tỉnh L. Theo Giấy ủy quyền số 594/UQ-BIDV.LĐ ngày 10/5/2024 của Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh tỉnh L. (Anh H và chị D có mặt t i phiên tòa, các đương sự hác có đơn xin giải quyết
vắng mặt )
NỘI DUNG V ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/10/2023 và lời khai của nguyên đơn anh M Nguyễn Thanh H trình bày:
Anh và chị D có đăng
ết hôn và được Ủy ban nhân dân xã X, thành phố Đ cấp giấy chứng nhận ết hôn ngày 30/9/2003, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của Việt Nam.
Trong quá trình chung sống mâu thuẫn vì chị D hông tôn tr ng anh, chị D luôn nghi ngờ anh và cho người theo dõi anh. Và có một lần anh đi chơi chung cùng các b n, trong lúc chờ b n ở hách s n thì chị D đưa người vào gõ cửa và hống chế anh để quay phim, chụp hình anh. Lúc đó có anh và một b n nữ ở trong phòng hách s n chờ b n đến.
Trong cuộc sống chung thì chị D hông tôn tr ng anh, hai vợ chồng hông có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau, anh có đánh chị D một vài lần và chị D cũng có đánh l i anh. Khoảng 02 năm nay thì anh d n ra ở ngoài hông ở cùng nhà với chị D.
Trong quá trình chung sống, trong năm 2022 chị D có làm đơn xin ly hôn thì anh có năn nỉ nên một thời gian sau chị D có rút đơn xin ly hôn.
Đến tháng 8/2022, anh có làm đơn xin ly hôn, sau đó anh có rút đơn xin ly hôn. Tuy nhiên, vợ chồng hông giải quyết được mâu thuẫn nên anh làm đơn xin ly hôn l i. Vợ chồng anh chị đã hông sống chung từ năm 2022 đến nay, chị và các con ở một nhà còn anh ở dưới vườn, hông sinh ho t vợ chồng, hàng tháng con cần tiền gì thì anh chuyển vào tài hoản của con gái. Ăn ngủ riêng, sáng thì anh vẫn về đón con đi h c còn chiều thì chị D đón các con về.
Nay anh xác định hông còn tình cảm với chị D nên đề nghị ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Mai Nguyễn Thảo N, sinh ngày 15/4/2005; Mai Nguyễn Thảo L, sinh ngày 13/4/2008; Mai Nguyễn Thanh H2, sinh ngày 21/9/2017. Anh cũng đề nghị nuôi 03 con chung và hông yêu cầu chị D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: hông có nên hông yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, anh có nợ Ngân hàng TMCP Đ- Chi nhánh L- P số tiền 1.000.000.000đ từ ngày 23/12/2022, hiện anh chưa trả được hoản nợ gốc nào và đây là hoản nợ riêng của anh nên anh tự giải quyết hông yêu cầu chị D cùng trả nợ chung.
Đối với diện tích đất nông nghiệp 5.000m2 t i tổ G thôn Đ, xã X, thành phố Đ, nguồn gốc tài sản của bố mẹ hai phá chưa có giấy tờ, hiện nay anh chị chỉ là canh tác trồng hoa ngắn ngày trên đất chưa được bố mẹ tặng cho tài sản này.
Nay anh vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị ly hôn với chị Nguyễn Thị Kim D vì hông thể sống chung được với nhau nữa.
Ngoài ra, anh không trình bày gì thêm.
* Bị đơn chị Nguyễn Thị Kim D trình bày:
Anh và chị D có đăng
ết hôn và được Ủy ban nhân dân xã X, thành phố Đ cấp giấy chứng nhận ết hôn ngày 30/9/2003, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của Việt Nam.
Anh H trình bày mâu thuẫn là hông đúng. Vì vợ chồng hông có mâu thuẫn gì. Từ sau hi ết hôn vợ chồng chị về ở chung nhà với nhà mẹ chồng t i Tổ E, thôn Đ, xã X, thành phố Đ cho đến nay. Trong quá trình chung sống vợ chồng sống h nh phúc, có trách nhiệm với nhau. Chị được chồng yêu thương và rất được quan tâm. Trong gia đình chị được mẹ chồng thương và xem như con gái ruột. Do vậy, gia đình sống tương đối hòa thuận êm ấm; ể cả anh chị bên chồng cũng thương qu chị. Từ đầu năm 2022, chị thấy chồng có những biểu hiện hông bình thường với chị, thường xuyên nhậu nhẹt về iếm chuyện gây gỗ cố tình gây mâu thuẫn với chị; quá trình tìm hiểu thì chị phát hiện chồng có ngo i tình với người phụ nữ hác tên Nguyễn Thị Mỹ H3, (bà H3 có chồng đã ly hôn người yêu cũ của chồng, tình cờ 02 người thời gian gần đây gặp l i). Hai người thường xuyên hẹn hò, thuê hách s n ở chung, đi ăn uống chung, nhắn tin qua l i và chụp hình chung với nhau trên zalo, việc anh H ngo i tình hầu như phía nhà chồng hi biết được thì đều phản ứng với chồng chị. Hiện chị hông muốn cung cấp các chứng cứ liên quan việc anh H ngo i tình vì chị hông muốn gia đình tan vỡ và muốn vợ chồng đoàn tụ cùng chăm sóc con chung.
Bản thân chị hông có lỗi gì để chồng phải xin ly hôn. Chị luôn sống có trách nhiệm với chồng con, hàng ngày vẫn lo buôn bán iếm tiền nuôi con ăn h c, ngoài ra còn chăm lo cho mẹ chồng đã lớn tuổi, vì hiện nay mẹ chồng ở chung với vợ chồng chị. Vợ chồng vẫn sống chung, ngủ chung với nhau, nay chị hông đồng ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Mai Nguyễn Thảo N, sinh ngày 15/4/2005; Mai Nguyễn Thảo L, sinh ngày 13/4/2008; Mai Nguyễn Thanh H2, sinh ngày 21/9/2017 hiện đang ở với chị.
Nay chị hông đồng ly hôn nên hông yêu cầu giải quyết các vấn đề con chung, tài sản chung.
Trường hợp Tòa vẫn giải quyết ly hôn thì chị có nguyện v ng được nuôi 03 con chung và yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con cụ thể cấp dưỡng cho con chung Mai Nguyễn Thảo N, sinh ngày 15/4/2005 số tiền 5.000.000đ/tháng cho đến hi con trưởng thành; cấp dưỡng cho con chung Mai Nguyễn Thảo L, sinh ngày 13/4/2008; Mai Nguyễn Thanh H2, sinh ngày 21/9/2017 số tiền 6.000.000đ/tháng/hai con chung cho đến hi con trưởng thành.
Chị cũng hông yêu cầu giải quyết tài sản trong vụ án này.
Đối với hoản nợ số tiền 1.000.000.000đ ngày 23/12/2022 của Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh L - P anh H cho rằng đó là hoản nợ riêng của anh H thì chị hông có iến gì. Nay chị đề nghị Tòa án hông chấp nhận đơn ly hôn của anh H, có nguyện v ng vợ chồng đoàn tụ cùng chăm sóc con chung.
Ngoài ra, chị hông trình bày gì thêm.
*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP Đ.
Ngày 12/05/2023, Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh L có hợp đồng tín dụng số 273/2023/16775929/HĐTD, theo đó Ngân hàng cho anh M Nguyễn Thanh H thời h n vay 12 tháng. Vợ chồng anh Mai Nguyễn Thanh H, chị Nguyễn Thị Kim D xác định (cam ết với B) đây là hoản nợ riêng của anh H; chị D hông có nghĩa vụ đối với hoản vay này.
Ngân hàng nhận thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất theo GCNQSDD, QSHNO & TSKGLVD số CX 059930 do Sở TN&MT tỉnh L cấp ngày 26/06/2020 theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 598/2022/16775929/HDBD ngày 23/12/2022 giữa ngân hàng và anh M Nguyễn Thanh H do Văn phòng C chứng nhận ngày 26/12/2022 được đăng giao dịch đảm bảo ngày 26/12/2022. Vì vậy, tài sản thể chấp được thực hiện theo đúng quy định.
Thời điểm hiện t i, anh H đang thực hiện nghĩa vụ thanh toán đúng như cam ết của hợp đồng đã
ết. Nên Ngân hàng tiếp tục duy trì hoản nợ của anh H và hông yêu cầu Tòa án giải quyết đối với số tiền anh H đang vay t i ngân hàng trong cùng vụ án ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Kim D và anh Mai Nguyễn Thanh H. Khi phát sinh tranh chấp thì Ngân hàng sẽ hởi iện bằng vụ án dân sự hác, hông đề nghị Tòa án giải quyết số nợ vay của hách hàng trong cùng vụ án ly hôn nên ngân hàng cũng đề nghị hông phải tham gia tố tụng hi Tòa án có yêu cầu (có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt èm theo).
Tòa án hông tiến hành hòa giải nhưng hông thành.
T i phiên tòa hôm nay, anh H xác định hông còn tình cảm với chị D nên vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với chị D. Về con chung: anh cũng thừa nhận có 03 con chung Mai Nguyễn Thảo N, sinh ngày 15/4/2005; Mai Nguyễn Thảo L, sinh ngày 13/4/2008; Mai Nguyễn Thanh H2, sinh ngày 21/9/2017. Hiện cháu N đã trưởng thành, còn anh cũng đồng giao con chung Mai Nguyễn Thảo L và Mai Nguyễn Thanh H2 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng đến hi trưởng thành. Anh cũng đồng cấp dưỡng nuôi con chung 6.000.000đ/tháng/02 con chung (Mai Nguyễn Thảo L và Mai Nguyễn Thanh H2) cho đến hi các con trưởng thành. Về nợ chung hông có, còn hoản nợ ngân hàng là nợ riêng của anh nên anh hông yêu cầu chị D phải có trách nhiệm trả.
Còn chị D cũng thừa nhận đầu năm 2022 chị có làm đơn ly hôn nhưng sau đó chị cũng đã rút đơn về. Hiện nay chị xác định vẫn còn tình cảm với anh H nên hông đồng ly hôn. Về con chung: chị cũng thừa nhận có 03 con chung Mai Nguyễn Thảo N, sinh ngày 15/4/2005; Mai Nguyễn Thảo L, sinh ngày 13/4/2008; Mai Nguyễn Thanh H2, sinh ngày 21/9/2017. Hiện cháu N đã trưởng thành, chị đề nghị trực tiếp nuôi dưỡng các con chung Mai Nguyễn Thảo L, M Nguyễn Thanh H2 và yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung 6.000.000đ/tháng/02 con chung cho đến hi các con trưởng thành. Về nợ chung hông có, còn hoản nợ ngân hàng là nợ riêng của anh H nên chị hông có iến. Chị cũng hông yêu cầu giải quyết về tài sản trong vụ án này.
Đ i diện Viện iểm sát nhân dân thành phố Đà L t, tỉnh Lâm Đồng phát biểu
iến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư Tòa án và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, ể từ hi thụ l cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu hởi iện của nguyên đơn anh H, cho anh H và chị D được ly hôn. Giao con chung Mai Nguyễn Thảo L, sinh ngày 13/4/2008; Mai Nguyễn Thanh H2, sinh ngày 21/9/2017 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng và anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung 6.000.000đ/02 con chung cho đến hi các con trưởng thành. Riêng con chung Mai Nguyễn Thảo N, sinh ngày 15/4/2005 đã trưởng thành nên hông xem xét. Về tài sản chung hông yêu cầu nên hông xem xét. Nợ chung hông có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau hi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra t i phiên tòa và căn cứ vào ết quả tranh luận t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Nguyên đơn anh Mai Nguyễn Thanh H và chị Nguyễn Thị Kim D có đăng
ết hôn t i Ủy ban nhân dân xã X, thành phố Đ. Nay anh H có đơn yêu cầu được ly hôn với chị D; hiện nay bị đơn chị D sinh sống t i thôn Đ, xã X, thành phố Đ. Vì vậy, cần xác định quan hệ tranh chấp là: “Tranh chấp ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đà L t theo quy định t i hoản 1 Điều 28, điểm a hoản 1 Điều 35, điểm a hoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
Xét yêu cầu hởi iện của anh Mai Nguyễn Thanh H thì thấy rằng:
Về quan hệ hôn nhân:
Anh H và chị D ết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng
ết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam và đã được Ủy ban nhân dân xã X, thành phố Đ cấp giấy chứng nhận ết hôn vào ngày 30/9/2003. Quan hệ hôn nhân giữa anh H, chị D là có trên thực tế và hai người đã có 03 con chung.
Theo quy định t i Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì: “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, … và lý do chính đáng khác”.
Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án cũng như t i phiên tòa hôm nay thì anh H hẳng định trong quá trình chung sống vợ chồng mâu thuẫn vì chị D không tôn tr ng anh, chị D luôn nghi ngờ anh và cho người theo dõi anh, hai vợ chồng hông có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau, anh có đánh chị D một vài lần và chị D cũng có đánh l i anh. Khoảng 02 năm nay thì anh d n ra ở ngoài hông ở cùng nhà với chị D. Đầu năm 2022 chị D có làm đơn xin ly hôn thì anh có năn nỉ nên một thời gian sau chị D có rút đơn xin ly hôn. Đến tháng 8/2022, anh có làm đơn xin ly hôn, sau đó anh có rút đơn xin ly hôn là phù hợp với tài liệu anh H cung cấp thể hiện Tòa án nhân dân thành phố Đà L t đã đình chỉ giải quyết vụ án số 145/2022/QĐST-HNGĐ ngày 05/8/2022. Tuy nhiên, vợ chồng hông giải quyết được mâu thuẫn nên anh làm đơn xin ly hôn l i. Vợ chồng anh chị đã hông sống chung từ năm 2022 đến nay, chị và các con ở một nhà còn anh ở dưới vườn, hông sinh ho t vợ chồng, hàng tháng con cần tiền gì thì anh chuyển vào tài hoản của con gái. Ăn ngủ riêng, sáng thì anh vẫn về đón con đi h c còn chiều thì chị D đón các con về.
T i phiên tòa, chị D trình bày: vợ chồng chị hông có mâu thuẫn gì, vợ chồng sống h nh phúc, có trách nhiệm với nhau. Chị cũng thừa nhận đầu năm 2022, chị có làm đơn ly hôn sau đó rút đơn về vợ chồng đoàn tụ. Từ đầu năm 2022, chị thấy chồng có những biểu hiện hông bình thường với chị, thường xuyên nhậu nhẹt về iếm chuyện gây gỗ cố tình gây mâu thuẫn với chị, quá trình tìm hiểu thì chị phát hiện chồng có ngo i tình với người phụ nữ hác nhưng chị D hông cung cấp các tài liệu, chứng cứ liên quan việc anh H ngo i tình. Chị mong muốn vợ chồng đoàn tụ cùng chăm sóc con chung.
Theo đơn xin xác nhận của chị D ngày 08/01/2024 (bút lục số 29) có xác nhận của bà T2 cũng như Trưởng thôn thôn Đ đề nghị Tòa án t o điều iện cho vợ chồng anh H, chị D đoàn tụ. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, chị D hông đồng ly hôn với anh H nhưng chị D cũng hông có giải pháp gì để giúp vợ chồng hàn gắn tình cảm. Mặt hác, chị D cho rằng anh H ngo i tình với người phụ nữ hác nhưng trong quá trình giải quyết vụ án chị D cũng hông xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh đến t i phiên tòa hôm nay (ngày 23/8/2024) chị D xuất trình bản phô tô bản chụp tin nhắn có nội dung: “dạ anh…..
Anh ơi
Trễ quá rồi mai anh gọi nha em
D1 anh
A ngủ ngon nha
Anh ngủ đc ko a”.
Và cung cấp 01 bản scan màu hình ảnh anh H chụp chung với người phụ nữ hác, theo chị D cho rằng chứng cứ đó thể hiện anh H ngo i tình nhưng anh H hông thừa nhận.
Tòa án đã tiến hành xác minh chính quyền địa phương ngày 23/01/2024 (bút lục số 35) về mâu thuẫn hôn nhân thể hiện: Mâu thuẫn hôn nhân của vợ chồng anh H và chị D chính quyền địa phương hông nắm rõ vì anh H, chị D không thông báo hay đề nghị giải quyết với Ủy ban. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định.
Nay anh H xác định hông còn tình cảm với chị D và cương quyết đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị D được ly hôn vì hông thể sống chung cùng nhau.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận thấy, tình tr ng hôn nhân giữa anh H và chị D đã trầm tr ng, mục đích hôn nhân hông đ t được, đời sống chung hông thể éo dài, do đó anh H yêu cầu được ly hôn với chị D là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung:
Anh H và chị D xác nhận vợ chồng có 03 con chung là Mai Nguyễn Thảo N, sinh ngày 15/4/2005; Mai Nguyễn Thảo L, sinh ngày 13/4/2008; Mai Nguyễn Thanh H2, sinh ngày 21/9/2017.
Xét thấy, con chung Mai Nguyễn Thảo N, sinh ngày 15/4/2005 đã trưởng thành nên hông xem xét, giải quyết việc nuôi con.
Theo bản tự hai ngày 13/12/2023 của con chung Mai Nguyễn Thanh H2 (Bút lục số 23) thì con chung có nguyện v ng được ở với bố mẹ. Theo bản tự hai ngày 10/01/2024 của con chung M1 Nguyễn Thảo L (Bút lục số 30) thì con chung có nguyện v ng được ở với mẹ.
T i phiên tòa anh H cũng đồng giao 02 con chung Mai Nguyễn Thảo L, Mai Nguyễn Thanh H2 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử giao 02 con chung Mai Nguyễn Thảo L, sinh ngày 13/4/2008; Mai Nguyễn Thanh H2, sinh ngày 21/9/2017 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến hi con chung đủ tuổi thành niên là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của anh H và chị D về việc: Anh H cấp dưỡng cho con chung Mai Nguyễn Thảo L, sinh ngày 13/4/2008 số tiền 3.000.000đ/tháng; cấp dưỡng cho con chung Mai Nguyễn Thanh H2, sinh ngày 21/9/2017 số tiền 3.000.000đ/tháng cho đến hi các con trưởng thành. Thời gian cấp dưỡng nuôi con chung ể từ tháng 8/2024.
Quyền đi l i thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con; Quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung: Anh H, chị D hông yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử hông đề cập giải quyết.
Về nợ chung: Anh H, chị D đều xác nhận hông có nợ chung nên hông yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử hông xem xét.
Đối với hoản vay của anh H t i Ngân hàng TMCP Đ chi nhánh L - PGD L, anh Mai Nguyễn Thanh H, chị Nguyễn Thị Kim D đều xác định đây là hoản nợ riêng của anh H. Hơn nữa Ngân hàng hông yêu cầu Tòa án giải quyết đối với số tiền anh H đang vay t i ngân hàng trong cùng vụ án ly hôn giữa chị D và anh H. Khi phát sinh tranh chấp thì Ngân hàng sẽ hởi iện bằng vụ án dân sự hác, hông đề nghị Tòa án giải quyết số nợ vay của hách hàng trong cùng vụ án ly hôn. Do vậy, hội đồng xét xử hông xem xét giải quyết.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu hởi iện của nguyên đơn để tuyên xử theo hướng nhận định nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
Về án phí sơ thẩm:
Nguyên đơn anh Mai Nguyễn Thanh H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định t i điểm a hoản 5, hoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Cụ thể: Nguyên đơn anh H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ t m ứng án phí đã nộp thay theo biên lai thu t m ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012198 ngày 06/10/2023 t i Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà L t, tỉnh Lâm Đồng. Anh H còn phải nộp 300.000đ án phí còn thiếu
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ hoản 1 Điều 28, điểm a hoản 1 Điều 35, điểm a hoản 1 Điều 39, của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 19, 55, 56, 57, 58, 107, 110, 116, 117, 118 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a hoản 5, hoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu hởi iện của nguyên đơn anh M Nguyễn Thanh H về việc “Tranh chấp ly hôn” với đối với bị đơn chị Nguyễn Thị Kim D. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP Đ. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn anh Mai Nguyễn Thanh H và bị đơn chị Nguyễn Thị Kim D được ly hôn.
2. Về con chung:
Giao 02 con chung Mai Nguyễn Thảo L, sinh ngày 13/4/2008; Mai Nguyễn Thanh H2, sinh ngày 21/9/2017 cho chị Nguyễn Thị Kim D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến hi con chung đủ tuổi thành niên.
Quyền đi l i thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con; Quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung:
Ghi nhận sự thỏa thuận của anh Mai Nguyễn Thanh H và chị Nguyễn Thị Kim D về việc: Anh H cấp dưỡng cho con chung Mai Nguyễn Thảo L, sinh ngày 13/4/2008 và Mai Nguyễn Thanh H2, sinh ngày 21/9/2017 số tiền 6.000.000đ/tháng/02 con (3.000.000đ/tháng/01con) đến hi các con đủ tuổi thành niên. Thời gian cấp dưỡng nuôi con chung ể từ tháng 8/2024.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành chưa thanh toán số tiền trên thì còn phải trả khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
4. Về án phí:
Nguyên đơn anh Mai Nguyễn Thanh H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ t m ứng án phí đã nộp theo biên lai thu t m ứng án phí, lệ phí Tòa số 0012198 ngày 06/10/2023 t i Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà L t, tỉnh Lâm Đồng. Anh H còn phải nộp 300.000đ án phí còn thiếu.
Trong h n 15 ngày ể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền háng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2015 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 - Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2015; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2015”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND TP. Đà L t; - Chi cục THADS TP. Đà L t; - UBND xã X, TP. Đà L t; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã và đóng dấu Dƣơng Thị Liên |