- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Đặng Thị Kim P xin ly hôn ông Trịnh Công V"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Đặng Thị Kim P và ông Trịnh Công V thuận tình ly hôn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MCB TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2024/HNGĐ-ST Ngày: 18-6-2024 V/v: “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MCB, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đoan Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Phước Bình
Ông Hồ Văn Thái
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ Thị Minh Nguyệt – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện MCB, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Bùi Đinh Thị Huyền Đăng – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện MCB, tỉnh Bến Tre công khai xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 94/2024/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Kim P, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Tổ H, ấp N, xã TL, huyện TP, tỉnh Đồng Nai.
Chỗ ở hiện nay: Số 28/8 ấp B, xã XTS, huyện HM, Thành phố Hồ Chí Minh.
* Bị đơn: Ông Trịnh Công V, sinh năm 1980;
Địa chỉ: ấp PT, xã PM, huyện MCB, tỉnh Bến Tre.
(Nguyên đơn và bị đơn có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đặng Thị Kim P trình bày:
Bà và ông Trịnh Công V tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã Phú Mỹ, huyện MCB, tỉnh Bến Tre vào ngày 15/11/2016. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cải vả nhau. Gia đình hai bên đã hòa giải nhiều lần nhưng vợ chồng không hàn gắn được với nhau. Bà nhận thấy hôn nhân không còn hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống và hòa hợp trở lại nên bà có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông V. Bà có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trịnh Thành Đạt, sinh ngày 07/11/2016. Sau khi ly hôn, ông V được trực tiếp nuôi con chung, bà P không cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Bà P khai không có tài sản chung.
- Về nợ chung: Bà P khai không có nợ chung.
Bị đơn ông Trịnh Công V thống nhất với lời trình bày của bà P về điều kiện kết hôn, thời điểm kết hôn cũng như nguyên nhân mâu thuẫn trong hôn nhân vợ chồng. Nay bà P làm đơn xin ly hôn ông cũng đồng ý xin ly hôn. Đồng thời, ông V có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trịnh Thành Đ, sinh ngày 07/3/2016. Sau khi ly hôn, ông V yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, ông V không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Ông V khai không có tài sản chung.
- Về nợ chung: Ông V khai không có nợ chung.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình;
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 55, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đặng Thị Kim P; về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trịnh Thành Đ, sinh ngày 07/3/2016; Sau khi ly hôn, ông V được trực tiếp nuôi con chung, ghi nhận ông V không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung vợ chồng khai không có nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Xét đây là vụ án xin ly hôn, bị đơn hiện đang cư trú tại xã PM, huyện MCB, tỉnh Bến Tre nên căn cứ Điều 28 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện MCB, tỉnh Bến Tre là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Nguyên đơn bà Đặng Thị Kim P, bị đơn ông Trịnh Công V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án nhân dân huyện MCB, tỉnh Bến Tre không thể tiến hành hòa giải được. Do đó, căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà P và ông V là đúng quy định.
Về hôn nhân: Bà Đặng Thị Kim P và ông Trịnh Công V tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Mỹ, huyện MCB, tỉnh Bến Tre vào ngày 15/11/2016 nên được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên thường xuyên cải vả nhau. Gia đình ông V và bà P đã hòa giải nhiều lần nhưng vợ chồng không hàn gắn được. Nay bà P xác định không còn tình cảm với chồng nên bà có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông V, ông V cũng thống nhất với ý kiến bà P và đồng ý thuận tình ly hôn. Bà P và ông V có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt.
Xét thấy mâu thuẫn giữa bà P và ông V thực tế đã xảy ra. Căn cứ theo biên bản xác minh ngày 13/5/2024, bà Đặng Thị Tuyết H là em ruột nguyên đơn cho biết cuộc sống vợ chồng ông V, bà P không hạnh phúc vợ chồng bất đồng quan điểm thường hay cải vả nhau, bà P khuyên nhiều lần và nhờ mẹ chồng khuyên ông V nhưng không thay đổi. Do đó, thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà P và ông V đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà P có đơn xin ly hôn, ông V đồng ý ly hôn nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thuận tình ly hôn của ông V và bà P.
Về con chung: Vợ chồng bà P và ông V có 01 con chung tên Trịnh Thành Đ, sinh ngày 07/3/2016. Sau khi ly hôn, ông V được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung, phù hợp với nguyện vọng của cháu Đạt muốn tiếp tục sống cùng với ông V nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Ghi nhận ông V không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Bà P và ông V khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Bà P và ông V khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Xét thấy ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm các đương sự phải nộp theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 55, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ các Điều 28, 35, 147 và Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Bà Đặng Thị Kim P và ông Trịnh Công V thuận tình ly hôn.
- Về con chung: Bà Đặng Thị Kim P và ông Trịnh Công V có 01 con chung tên Trịnh Thành Đ, sinh ngày 07/11/2016. Sau khi ly hôn, ông Trịnh Công V được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc con chung. Ghi nhận ông Trịnh Công V không yêu cầu bà Đặng Thị Kim P cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà Đặng Thị Kim P được quyền đến thăm, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà Đặng Thị Kim P và ông Trịnh Công V khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Bà Đặng Thị Kim P và ông Trịnh Công V khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) bà Đặng Thị Kim P tự nguyện nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004511 ngày 01/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện MCB. Bà Đặng Thị Kim P đã nộp xong tiền án phí.
“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND huyện MCB; - Chi Cục THADS huyện MCB; - Các đương sự; - UBND xã PM; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Đoan Trang |