vanban.org

Bản án 60/2024/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 22/01/2024 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/01/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện bà Trần Thị Kim L. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 07/2023/HC-ST ngày 06/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Đình chỉ giải quyết đối với một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Kim L về yêu cầu hủy Thông báo số 71/TB-VPĐKĐĐTB ngày 12/4/2022. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Kim L về yêu cầu tách 02 thửa đất số 38, tờ bản đồ số 64, diện tích 10.000 m2 (CLN) và thửa đất số 09, tờ bản đồ số 64, diện t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Trần Thị Kim L kiện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện bà Trần Thị Kim L. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 07/2023/HC-ST ngày 06/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Luật Tố tụng hành chính; Điều 241 Luật Tố tụng Hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/HC-PT
Ngày: 22-01-2024
V/v “Khiếu kiện hành vi
hành chính trong lĩnh vực
quản lý đất đai”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Mười

Các thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Khương

Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thanh Bình – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Tấn Thông – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 22 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 612/2023/TLPT-HC ngày 29/8/2023 về việc “Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” do Bản án hành chính sơ thẩm số 07/2023/HC-ST ngày 06/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3115/2023/QĐ - PT ngày 28/11/2023 giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Bà Trần Thị Kim L, sinh năm 1976; cư trú tại: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của người khởi kiện: Anh Võ Đ, sinh năm 1995; địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú: Khóm B, thị trấn U, huyện U, tỉnh Cà Mau; cư trú tại: Số B, đường N, Khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (có mặt).

2. Người bị kiện: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T; địa chỉ: Số F, đường C, Khu phố E, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Quang K - Chức vụ Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Đặng Đa L1 – Chức vụ Phó Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T (xin xét xử vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Minh X – Chức vụ: Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T - Chi nhánh T (xin xét xử vắng mặt).

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Minh X - Chức vụ: Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T - Chi nhánh T (xin xét xử vắng mặt).

4. Người kháng cáo: Người khởi kiện bà Trần Thị Kim L.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ, bản án sơ thẩm và lời trình bày của các bên đương sự, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

người khởi kiện bà Trần Thị Kim L và đại diện theo ủy quyền của bà L trình bày:

Ngày 14/3/2022 bà L nộp hồ sơ đề nghị Văn phòng đăng ký đất đai – (viết tắt là VPĐKĐĐ) tỉnh Tây Ninh - Chi nhánh T làm thủ tục tách thửa đất số 38, tờ bản đồ số 64, diện tích 10.000 m2 (CLN), yêu cầu tách thành 08 thửa và thửa đất số 09, tờ bản đồ số 64, diện tích 17.928,3 m2 (CLN), tách thành 15 thửa cho cùng một người là bà L đứng tên quyền sử dụng đất, đất tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, sau đó bà L thực hiện việc chuyển quyền theo quy định.

Đến ngày hẹn 30/3/2022, VPĐKĐĐ tỉnh Tây Ninh - Chi nhánh T không có kết quả đo đạc và ra Thông báo số 71/TB-VPĐKĐĐTB ngày 12/4/2022 có nội dung: “Trường hợp của bà yêu cầu tách thửa một lần thành 23 thửa mới cùng một thời điểm để chuyển quyền sử dụng đất là số lượng quá lớn cho một lần tách thửa. Hiện nay Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố có trách nhiệm chỉ đạo kiểm tra, rà soát nghiêm các trường hợp lợi dụng quy định tách thửa tác động trái pháp luật làm thay đổi hiện trạng sử dụng đất, tự ý xây dựng hạ tầng, phân lô bán nền nhất là phân lô, bán nền trên đất nông nghiệp tại địa phương… nếu bà có nhu cầu cần thiết, trước mắt VPĐKĐĐ tỉnh Tây Ninh – Chi nhánh T sẽ thực hiện tách thửa 05 thửa mới cho một lần yêu cầu tách thửa và không cùng một người cùng một thời điểm để nhận chuyển quyền và người sử dụng đất không vi phạm Luật đất đai”. Ngày 20/4/2022, VPĐKĐĐ - Chi nhánh T có lập biên bản với bà L ghi nhận ý kiến của bà L và sẽ báo cáo cấp trên để xin ý kiến chỉ đạo. Ngày 28/4/2022, bà L làm đơn khiếu nại. Sau khi khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, bà L nhận được Văn bản trả lời số: 3908/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 20/6/2022 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T (viết tắt là STNMT) nội dung không đồng ý tách cùng lúc nhiều thửa cho bà.

Nay căn cứ khoản 3 Điều 75 Nghị định 43 năm 2014, nội dung: “Trường hợp tách thửa do chuyển quyền sử dụng đất một phần thửa đất ……thì VPĐKĐĐ thực hiện các công việc sau: Đo đạc địa chính để tách thửa đất…”. Đồng thời, căn cứ điểm 3 Điều 6 Quyết định số 28 ngày 27/7/2020 quy định: “tách thửa đối với đất nông nghiệp tại cấp xã diện tích đất tối thiểu là 1000 m2”; khoản 1 Điều 168, khoản 1 Điều 188, điểm i khoản 1 Điều 99 của Luật Đất đai 2013 bà L khởi kiện đối với VPĐKĐĐ tỉnh Tây Ninh, yêu cầu hủy Thông báo số 71/TB-VPĐKĐĐTB ngày 12/4/2022 và yêu cầu Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T thực hiện thủ tục tách thửa theo yêu cầu nêu trên của bà.

Tại Công văn số 588/VPĐKĐĐ-ĐKCGCN ngày 28/02/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T có nội dung: Bà L yêu cầu đo đạc tách 02 thửa đất trồng cây lâu năm tại huyện T thành 23 thửa để sử dụng, các thửa đất yêu cầu tách cùng một lúc, cùng một thời điểm và các thửa tách đều tách cho bà Trần Thị Kim L đứng tên. Theo quy định tại khoản 3 Điều 75 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định trình tự, thủ tục tách và hợp thửa đất; khoản 2 Điều 2 Quyết định số 28/2020/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh T ngày 27/7/2020 quy định đối tượng áp dụng: “Người sử dụng đất hợp pháp có yêu cầu tách thửa để thực hiện các quyền theo quy định của Luật Đất đai và các quy định của pháp luật có liên quan”. Căn cứ tình hình thực tiễn theo đơn của bà L và các quy định nêu trên, thì việc bà L yêu cầu tách thửa để tự mình đứng tên mà không thực hiện các quyền theo quy định của Luật Đất đai và các quy định của pháp luật có liên quan là không phù hợp với quy định.

Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện - ông Trần Đặng Đa L1 trình bày: Thống nhất với Công văn số: 588/VPĐKĐĐ-ĐKCGCN ngày 28 tháng 2 năm 2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T. Không đồng ý với yêu cầu tách thửa của bà L vì theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Quyết định số 28/2020/QĐ-UBND ngày 27/7/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh T thì việc tách thửa phải đi cùng với việc chuyển quyền sử dụng đất (chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế…) chứ không phải tách thửa để cấp đổi quyền sử dụng đất. Vì vậy, bà L yêu cầu tách thửa cho bà L cấp đổi đứng tên quyền sử dụng đất sau đó mới thực hiện chuyển quyền là không đúng quy định tại khoản 2 Điều 2 của Quyết định số 28/2020/QĐ-UBND ngày 27/7/2020. Trường hợp bà L yêu cầu tách thửa để chuyển quyền sử dụng đất không phải tách thửa để cấp đổi thì Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T – Chi nhánh T thực hiện theo quy định.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện – ông Nguyễn Minh X trình bày: Thống nhất với ý kiến của ông Trần Đặng Đa L1 và trình bày thêm bà L có yêu cầu VPĐKĐĐ tỉnh Tây Ninh – Chi nhánh huyện T làm thủ tục tách nhiều thửa cho bà đứng tên nhưng bà chưa thực hiện việc chuyển quyền sử dụng đất nên theo quy định pháp luật trường hợp này chưa đủ điều kiện để tách thửa. Do đó, VPĐKĐĐ đã ban hành Thông báo số 71/TB- VPĐKĐĐTB ngày 12/4/2022 với nội dung như bà L trình bày. Ngoài ra trình tự, thủ tục thực hiện việc tách thửa do chuyển quyền phải theo quy định pháp luật như đo đạc, xác định vị trí... Bà L căn cứ vào Điều 168, khoản 1 Điều 188 của Luật Đất đai 2013 cho rằng được quyền tách thửa là không có căn cứ vì bà L chỉ mới có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bà phải thực hiện thủ tục đăng ký, đo đạc tách thửa để xác định vị trí đất thực hiện chuyển quyền, việc bà L yêu cầu tách 23 thửa để đứng tên là số lượng lớn trong cùng một thời điểm trong khi không thực hiện các bước theo quy định của Luật Đất đai là không phù hợp.

Tại Công văn số: 4530/STNMT-VPĐKĐĐ, ngày 28/6/2023 của sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T có nội dung: Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 75 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ; quy định tại khoản 2 Điều 2 của Quyết định số 28/2020/QĐ-UBND ngày 27/7/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh T quy định đối tượng áp dụng: “Người sử dụng đất hợp pháp có yêu cầu tách thửa để thực hiện các quyền theo quy định của Luật Đất đai và các quy định của pháp luật có liên quan” Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T - Chi nhánh T từ chối tiếp nhận hồ sơ của bà L là đúng quy định của pháp luật. Sở T giữ nguyên quan điểm như Văn bản số 3908/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 20/6/2022.

Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bà L thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T thực hiện thủ tục tách thửa đất số 38 thành 08 thửa, tách thửa đất số 09 thành 15 thửa cho bà L đứng tên quyền sử dụng đất; rút yêu cầu hủy Thông báo số 71/TB- VPĐKĐĐTB của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T - Chi nhánh T.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 07/2023/HC-ST ngày 06/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 143 của Luật Tố tụng hành chính.

Căn cứ Điều 75 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Điều 75a. Nghị định số 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ; khoản 7 Điều 3 Quyết định số 10/2023/QĐ-UBND ngày 26/4/2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh T; Điều 30, khoản 1 Điều 32 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Đình chỉ giải quyết đối với một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Kim L về yêu cầu hủy Thông báo số 71/TB-VPĐKĐĐTB ngày 12/4/2022.

2. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Kim L về yêu cầu tách 02 thửa đất số 38, tờ bản đồ số 64, diện tích 10.000 m2 (CLN) và thửa đất số 09, tờ bản đồ số 64, diện tích 17.928,3 m2; địa chỉ thửa đất tại xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các bên đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19/7/2023 người khởi kiện bà Trần Thị Kim L có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm, người khởi kiện bà Trần Thị Kim L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện bà Trần Thị Kim L là ông Võ Đ trình bày: đề nghị Hội đồng xét xử buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T thực hiện hành vi hành chính là tách các thửa đất số 38 thành 08 thửa và thửa số 9 thành 15 thửa (loại đất CLN). Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện bà Trần Thị Kim L, sửa quyết định án sơ thẩm.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hành chính 2015 và tuân thủ đúng pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.

Về nội dung: Vị kiểm sát viên phân tích các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xét thấy bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Trần Thị Kim L là có căn cứ, yêu cầu kháng cáo không có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện bà Trần Thị Kim L, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của người khởi kiện bà Trần Thị Kim L trong hạn luật định, hợp lệ, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Xét kháng cáo của người khởi kiện:

Về nội dung vụ án:

Bà L khởi kiện đối với Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T, yêu cầu thực hiện hành vi hành chính là tách thửa đất số 38 diện tích 10.000 m2 (CLN) thành 08 thửa, tách thửa đất số 9 diện tích 17.928,3 m2(CLN) thành 15 thửa cho cùng một người là bà L đứng tên quyền sử dụng đất. Ngày 12/4/2022, VPĐKĐĐ tỉnh Tây Ninh – Chi nhánh T có Thông báo số 71 có nội dung: Trường hợp của bà L yêu cầu tách thửa một lần thành 23 thửa mới cùng một thời điểm cho bà L đứng tên là số lượng quá lớn nên sẽ xin ý kiến của cấp trên. Ngày 28/4/2022, bà L khiếu nại đến Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T và được trả lời tại Công văn số 3908/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 20/6/2022 có nội dung không đồng ý tách cùng lúc nhiều thửa cho bà.

Do vậy bà L khởi kiện đối với VPĐKĐĐ tỉnh Tây Ninh, yêu cầu hủy Thông báo số 71/TB-VPĐKĐĐTB ngày 12/4/2022 và yêu cầu Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T thực hiện thủ tục tách thửa theo yêu cầu nêu trên của bà.

Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bà L rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu hủy Thông báo số 71/TB-VPĐKĐĐTB ngày 12/4/2022, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện là tự nguyện, căn cứ vào Điều 143 Luật Tố tụng hành chính Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này là phù hợp quy định pháp luật.

Xét yêu cầu tách thửa đất của bà L:

Bà L khởi kiện yêu cầu Văn phòng đăng ký thực hiện thủ tục tách 02 thửa đất số 38, 09 thành 23 thửa đất cho bà đứng tên quyền sử dụng đất.

Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T không đồng ý với yêu cầu tách thửa đất của bà L vì theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Quyết định số 28/2020/QĐ-UBND ngày 27/7/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh T thì việc tách thửa phải đi cùng với việc chuyển quyền sử dụng đất chứ không phải tách thửa để cấp đổi quyền sử dụng đất. Bà L yêu cầu tách thửa cho bà L cấp đổi đứng tên quyền sử dụng đất sau đó mới thực hiện chuyển quyền sử dụng là không đúng quy định tại khoản 2 Điều 2 của Quyết định số 28/2020/QĐ-UBND ngày 27/7/2020.

Hội đồng xét xử xét thấy: Theo quy định tại khoản 3 Điều 75 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về trình tự, thủ tục tách và hợp thửa đất “Trường hợp tách thửa do chuyển quyền sử dụng đất một phần thửa đất ……thì VPĐKĐĐ thực hiện các công việc sau: Đo đạc địa chính để tách thửa đất…” và khoản 2 Điều 2 Quyết định số 28/2020/QĐ-UBND tỉnh T ngày 27/7/2020 quy định đối tượng áp dụng: “Người sử dụng đất hợp pháp có yêu cầu tách thửa để thực hiện các quyền theo quy định của Luật Đất đai và các quy định của pháp luật có liên quan”.

Hiện nay, ngày 26/4/2023 Ủy ban nhân dân tỉnh T ban hành Quyết định số: 10/2023/QĐ-UBND quy định về diện tích tối thiểu được tách thửa đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Tây Ninh, thay thế Quyết định số 28 ngày 27/7/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh T. Tại Điều 3 của Quyết định số 10/2023/QĐ-UBND quy định các trường hợp không được phép tách thửa, hợp thửa: “Khoản 7. Tách thửa đất mà không thực hiện chuyển quyền, chuyển mục đích sử dụng”.

Quyết định số 10/2023/QĐ-UBND phù hợp với Nghị định số 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 sửa đổi, bổ sung; tại khoản 23. Bổ sung Điều 75a như sau:

“Điều 75a. Quy định điều kiện tách thửa đất, hợp thửa đất và diện tích tối thiểu được tách thửa.

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng và điều kiện cụ thể tại địa phương để quy định cụ thể điều kiện tách thửa đất, điều kiện hợp thửa đất theo từng loại đất và diện tích tối thiểu được tách thửa đối với từng loại đất”.

Vì vậy, yêu cầu của bà L thuộc trường hợp không được tách thửa theo quy định tại khoản 7 Điều 3 Quyết định số 10/2023/QĐ-UBND.

Do đó, hành vi không thực hiện thủ tục tách thửa của Văn phòng đăng ký đất đai là đúng quy định của pháp luật như nhận định của cấp sơ thẩm là có căn cứ.

Từ đó Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Kim L yêu cầu tách 02 thửa đất số 38, tờ bản đồ số 64, diện tích 10.000 m2 (CLN) và thửa đất số 09, tờ bản đồ số 64, diện tích 17.928,3 m2; địa chỉ thửa đất tại xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh là có căn cứ.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người khởi kiện bà Trần Thị Kim L phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng Hành chính 2015; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện bà Trần Thị Kim L. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 07/2023/HC-ST ngày 06/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Tuyên xử:

1. Đình chỉ giải quyết đối với một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Kim L về yêu cầu hủy Thông báo số 71/TB-VPĐKĐĐTB ngày 12/4/2022.

2. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Kim L về yêu cầu tách 02 thửa đất số 38, tờ bản đồ số 64, diện tích 10.000 m2 (CLN) và thửa đất số 09, tờ bản đồ số 64, diện tích 17.928,3 m2; địa chỉ thửa đất tại xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Án phí hành chính phúc thẩm: Buộc bà Trần Thị Kim L phải chịu số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0016734 ngày 19/7/2023 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ