vanban.org

Bản án 60/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P về việc yêu cầu bà Trần Thị N hoàn trả 01 chiếc máy may trị giá 3.

2/ Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị P được miễn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.- Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản — án dân sự — "Tran Thi Phân - Nguyễn Thi Nhanh"
  • Tòa quyết gì? 1/ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P về việc yêu cầu bà Trần Thị N hoàn trả 01 chiếc máy may trị giá 3.
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự
HUYỆN MỸ XUYÊN
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2024/DS-ST
Ngày: 15/7/2024
V/v: “Tranh chấp đòi lại tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Dương Hải

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Hồng Phượng

Ông Huỳnh Văn Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Tiểu Loan – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Mỹ Xuyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Tài– Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 112/2024/TLST-DS, ngày 9 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp đòi lại tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 176/2024/QĐXXST-DS, ngày 26/6/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1956.

Địa chỉ: ấp H, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Bà Trần Thị N.

Địa chỉ: ấp H, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 23/4/2024 nguyên đơn bà Nguyễn Thị P trình bày:

Vào khoảng năm 2005 thì bà có cho bà N mượn 01 chiếc máy may hiệu con Ó của Trung Quốc khi mua mới là 01 chỉ vàng 24k sau đó bà N không trả và sử dụng cho đến nay. Nay bà P yêu cầu bà N hoàn trả 01 Máy may tương đương 01 chỉ vàng 24k, tại phiên toà bà P yêu cầu bà N hoàn trả 01 chiếc máy may hoặc bằng tiền là 3.000.000đồng. Ngoài ra bà cũng thống nhất định giá theo giá thị trường chiếc máy may trên có trị giá là 3.000.000đồng.

- Bị đơn bà Trần Thị N trình bày: Khi còn nhỏ bà sống chung với cha bà và bà P, cách đây hơn 30 năm thì cha bà N và bà P có mua cho bà N 01 máy may để sử dụng trong gia đình nhưng sử dụng được khoảng 6 năm thì máy hư nên bà P đã bán ve chai chứ bà không giữ chiếc máy may nêu trên cũng như không có mượn chiếc máy may nào của bà P. Nay bà P yêu cầu bà hoàn trả lại 01 chiếc máy may hoặc bằng tiền 3.000.000đồng bà không đồng ý vì bà không mượn chiếc máy may nào của bà P. Ngoài ra bà cũng thống nhất định giá chiếc máy may trên có giá trị bằng 3.000.000đồng.

* Tại phiên toà kiểm sát viên phát biểu về đường lối giải quyết vụ án là đề nghị HĐXX xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cần bị đơn hoàn trả lại 01 chiếc máy may trị giá 3.000.000đồng.

Đối với việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về nội dung:

Xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm hoàn trả lại 01 chiếc máy may hoặc bằng tiền là 3.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn hoàn trả lại 01 chiếc máy may trị giá 3.000.000đồng, bị đơn không thừa nhận có mượn máy may của nguyên đơn. Xét thấy phía nguyên đơn không đưa ra được chứng cứ để chứng minh việc nguyên đơn có cho bị đơn mượn 01 chiếc máy may vào năm 2005. Toà án đã có ra thông báo bằng văn bản cho nguyên đơn cung cấp chứng cứ để chứng minh việc cho mượn máy may nhưng nguyên đơn vẫn không cung cấp chứng cứ cho Toà án, phía bị đơn không thừa nhận. Vì vậy đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn hoàn trả 01 chiếc máy may là không có căn cứ để chấp nhận. Đối với trị giá chiếc máy may đang tranh chấp thì các đương sự thống nhất trị giá của chiếc máy may theo giá thị trường hiện nay là 3.000.000đồng. Xét thấy việc các đương sự đã tự thoả thuận về trị giá của tài sản tranh chấp là đúng quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận việc thoả thuận định giá này.

Từ những phân tích ở trên HĐXX không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu càu bị đơn hoàn trả lại 01 chiếc máy may trị giá 3.000.000đồng là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội thì do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí không có giá ngạch là 300.000đồng. Tuy nhiên nguyên đơn là người cao tuổi không phải đóng tiền tạm ứng án phí và không phải chịu án phí. Bị đơn không phải chịu án phí.

Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên đã nêu là có căn cứ và phù hợp với những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, đánh giá tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát đã nêu.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280, của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

- Điều 166, Điều 494 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Khoản 2 Điều 26,, khoản 1 Điều 27, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1/ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P về việc yêu cầu bà Trần Thị N hoàn trả 01 chiếc máy may trị giá 3.000.000đồng.

2/ Án phí dân sự sơ thẩm:

- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị P được miễn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.-

- Bị đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ