- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Xuyên - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1, Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2023/HS-ST Ngày 29 - 8 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Hưng.
2. Hoàng Thị Thu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Đào - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:62/2023/QĐXXST - HS ngày 17 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Hoàng Văn X, sinh ngày 09 tháng 10 năm 1960 tại xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn T, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố: Hoàng Văn L (Đã chết); Mẹ: Lê Thị D (Đã chết); Vợ: Lê Thị Q (Đã chết); Có 06 con: Con lớn nhất sinh năm 1981, con nhỏ nhất sinh năm 1996; Tiền án, Tiền sự: Không. Tạm giữ, tạm giam: Không.
Nhân thân:
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 01/HSST ngày 30/10/198… Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 21 ngày 28/11/20….Tòa án nhân dân huyện Yên Định xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có.
Tại bản án hình sự phúc thẩm số 120/HSPT ngày 02/12/20… Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 48 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, cộng 12 tháng tù cho hưởng án treo của bản án số 21 ngày 28/11/2001 của Tòa án nhân dân huyện Yên Định. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt là 60 tháng tù.
Bị cáo đã chấp hành xong các bản án nêu trên.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/3/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Thị L, sinh ngày 02 tháng 12 năm 1965 tại xã Đ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Nơi thường trú: Thôn Y, xã Đ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Nơi tạm trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố: Nguyễn Huy Ch (Đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị K, sinh năm 1936; Chồng: Lê Văn T (Đã chết); Có 04 con: Con lớn nhất sinh năm 1986, con nhỏ nhất sinh năm 1992; Tiền án, Tiền sự: Không. Tạm giữ, tạm giam: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/3/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Anh Lê Huy M, sinh năm: 1985. (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
- Người làm chứng:
1. Chị Trịnh Thị T, sinh năm: 1987. (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
2. Ông Lê Huy Q, sinh năm: 1956. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa
3. Ông Nguyễn Hồng S, sinh năm: 1974. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
4. Anh Trịnh Anh D, sinh năm: 2014. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện cho anh Dũng: Ông Trịnh Đức T, sinh năm: 1985. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn từ trước về lối đi trong ngõ nên vào khoảng 17 giờ, ngày 22/12/2022, Trịnh Thị T và Nguyễn Thị L tiếp tục cãi nhau. Khi L và Trang cãi nhau được một lúc thì Trang gọi Lê Huy M (chồng của Trang) ra tiếp tục cùng Trang cãi nhau với L. Khi đang cãi nhau thì Hoàng Văn X (là bạn của L) về. Lúc này L nói với X về việc xảy ra mâu thuẫn với Trang. X bực tức lấy 01 gậy gỗ dài khoảng 80cm ra cổng cãi nhau với Trang. Thấy Trang cầm điện thoại quay nên X dùng tay giật chiếc điện thoại làm điện thoại của Trang rơi xuống đất và nhặt điện thoại lên cầm trên tay. Bị X giật điện thoại thì Trang gọi chồng là Lê Huy M trong nhà chạy ra cầm hai khúc mía chạy lại phía ông X. X dùng gậy đánh nhiều phát về phía Mong trúng vai, tay và mặt. Mong cũng dùng các khúc mía và gạch vồ, đá ném về phía X trúng chân, tay X và trúng chân cháu Trịnh Anh D, sinh năm 2014 (cháu ngoại X đang đứng chơi gần đó). Khi X và Mong đang đánh nhau thì L dùng cán chổi đánh Mong 01 cái vào vai đồng thời hô “đánh chết mẹ hấn đi”, khi X đuổi theo, Mong chạy qua chỗ Trang (đang đứng bên trong bức tường nhà của Trang) thì Trang dùng chổi với tay qua bờ tường đập với với theo X 01 cái. X và Mong đánh nhau một lúc thì dừng lại. Hậu quả X, Mong và cháu Dũng đều bị thương tích.
- Lê Huy M bị các thương tích sau:
+ 01 Vết rách dài 2cm ở đuôi mắt trái phía dưới.
+ 01 Vết rách dài 1cm ở khóe môi trên bên phải.
+ 01 Vết rách da kích thước 2cm x 3cm ở đầu gối chân trái.
+ 01 Vết trầy xước kích thước 1cm x 1cm ở đầu gối chân trái.
+ 01 Vết trầy xước kích thước 1cm x 2cm tại bụng trái.
+ 01 Vết trầy xước kích thước 0,5cm x 0,5cm tại ngón cái tay trái.
+ 01 Vết thâm tím kích thước 2cm x 3cm tại vai trái.
- Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1581 ngày 06/01/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận: Tổng tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Lê Huy M được tính theo phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 11%.
- Hoàng Văn X bị các vết thương sau:
+ 01 Vết thương rách da dài 01cm tại ngón cái tay trái.
+ 01 Vết thương rách da chảy máu kích thước 1cm x 0,5cm tại khe ngón trỏ và ngón giữa phía ngoài bàn tay trái.
+ 01 Vết thương rách da kích thước 3cm x 1cm tại bắp chân dưới chân trái.
- Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 132 ngày 09 tháng 02 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận: Tổng tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Hoàng Văn X được tính theo phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 03%
- Trịnh Anh D bị các vết thương sau:
+ 01 Vết rách da dài 01cm, chảy máu cẳng chân phải.
+ 01 Vết chầy xước da kích thước 1cm x 1,5cm ở cẳng chân trái.
- Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 131 ngày 09 tháng 02 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa kết luận: Tổng tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Trịnh Anh D được tính theo phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 02%.
Quá trình điều tra các bị cáo Hoàng Văn X và Nguyễn Thị L đã thành phần khai nhận hành vi dùng gậy gỗ, cán chổi đánh gây thương tích cho Lê Huy M. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với vị trí, đặc điểm thương tích trên thân thể bị hại, kết luận ra định thương tích, cơ chế hình thành thương tích, camera thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án.
Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra đã thu giữ: 04 (bốn) khúc mía màu xanh; 01 (một) khúc gậy gỗ màu trắng, đen dài 80cm; 02 (hai) cục gạch vồ; 01 (một) cục đá; 01 (một) đôi dép màu đen; 01 (một) chiếc ô màu xanh; 01 (một) chổi quét có chiều dài 90cm của Trịnh Thị T; 01 (một) chổi quét có chiều dài 120cm của Nguyễn Thị L.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo Hoàng Văn X và Nguyễn Thị L đã thỏa thuận, thống nhất bồi thường dân sự cho Lê Huy M đầy đủ. Lê Huy M cũng đã nhận bồi thường dân sự đầy đủ từ X và L và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 63/CT-VKSYĐ ngày 04/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định đã truy tố bị can Hoàng Văn X và Nguyễn Thị L về tội “ Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Hoàng Văn X và Nguyễn Thị L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Hoàng Văn X và Nguyễn Thị L phạm tội “ Cố ý gây thương tích”. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt: Hoàng Văn X từ 13 đến 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Thị L từ 12 đến 14 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết xong nên không xem xét.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 04 khúc mía màu xanh; 01 khúc gậy gỗ màu trắng, đen dài 80cm; 02 cục gạch vồ; 01 cục đá; 01 đôi dép màu đen; 01 chiếc ô màu xanh; 01 chổi quét có chiều dài 90cm của Trịnh Thị T; 01 chổi quét có chiều dài 120cm của Nguyễn Thị L.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Nhận định về hành vi, quyết định tố tụng:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Như vậy, hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Định; hành vi của Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Nhận định về hành vi phạm tội của bị cáo:
Thông qua tranh tụng tại phiên toà, Hoàng Văn X và Nguyễn Thị L hoàn toàn thừa nhận: Vào khoảng 17 giờ ngày 22 tháng 12 năm 2022, tại thôn T, xã Y, huyện Yên Định, bị cáo Hoàng Văn X và Nguyễn Thị L cùng Trịnh Thị T và Lê Huy M đã xảy ra xô xát với nhau. Quá trình xô xát X và L đã sử dụng gậy gỗ, cán chổi là hung khí nguy hiểm đánh gây thương tích cho Lê Huy M 11%. Đối chiếu với lời khai của các bị cáo trong hồ sơ vụ án, người bị hại, người làm chứng, vật chứng giao nộp và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thấy hoàn toàn phù hợp. Như vậy, HĐXX xét thấy có đủ căn cứ chứng minh hành vi dùng hung khí cố ý gây thương tích của bị cáo Hoàng Văn X và Nguyễn Thị L. Với hành vi trên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm đã được thành lập theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. VKSND huyện Yên Định truy tố bị cáo theo tội danh và điểm khoản trên, đề nghị HĐXX áp dụng điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất của vụ án và quan hệ pháp luật xâm phạm:
Tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó xâm phạm đến thân thể, sức khoẻ của người khác – một khách thể đặc biệt, được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật để răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Đánh giá về vai trò của bị cáo: Tính chất đồng phạm giản đơn, X là người đánh Mong trước và trực tiếp gây nên thương tích cho Mong nên X có vai trò thứ nhất trong vụ án. Khi X đánh Mong thì L đã có lời nói xúi giục X đánh Mong và trực tiếp đánh Mong một cái, do vậy L có vai trò thứ hai trong vụ án.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân:
Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện ăn năn hối cải đã bồi thường toàn bộ thiệt hại, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1 điều 51 BLHS. Người bị hại cũng có một phần lỗi và đã có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Ngoài ra bị cáo X có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 BLHS. Với các tình tiết nêu trên HĐXX xét thấy:
Đối với bị cáo X tuy không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo có nhân thân xấu, phạm tội lần này là tội nghiêm trọng. Do đó cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc trong môi trường giam giữ mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, thực tâm ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, bản thân là người cao tuổi. Vì vậy cần áp dụng thêm điều 54 để xét xử dưới khung hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về với với gia đình.
Đối với bị cáo L không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân tốt, phạm tội lần đầu với vai trò thứ yếu, có nơi cư trú rõ ràng, Vì vậy, HĐXX xét thấy không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, mà áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách, cũng đủ để giáo dục các bị cáo thành công dân tốt, đủ điều kiện để răn đe và phòng ngừa chung.
Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, thực tâm ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy cần áp dụng thêm điều 54 để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.
[ 5] Về trách nhiệm dân sự, vật chứng, án phí:
-Trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án các bị cáo và người bị hại đã thống nhất thỏa thuận bồi thường và đã bồi thường xong, người bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Vật chứng: 04 khúc mía màu xanh; 01 khúc gậy gỗ màu trắng, đen dài 80cm; 02 cục gạch vồ; 01 cục đá; 01 đôi dép màu đen; 01 chiếc ô màu xanh; 01 chổi quét có chiều dài 90cm của Trịnh Thị T; 01 chổi quét có chiều dài 120cm của Nguyễn Thị L. Đây là công cụ phạm tội không còn giá trị cần tịch thu tiêu hủy.
- Về án phí: Bị cáo bị kết án có tội, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo X là người cao tuổi có đơn đề nghị miễn án phí. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn tiền án phí cho bị cáo X là phù hợp.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS, tuyên bố bị cáo: Hoàng Văn X và Nguyễn Thị L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1, Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Hoàng Văn X 13 (mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1, Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 58 và khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Nguyễn Thị L 12 (mười hai) tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị L cho UBND xã Đ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường giữa các bị cáo và người bị hại. Việc bồi thường đã thực hiện xong,
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 04 khúc mía màu xanh; 01 khúc gậy gỗ màu trắng, đen dài 80cm; 02 cục gạch vồ; 01 cục đá; 01 đôi dép màu đen; 01 chiếc ô màu xanh; 01 chổi quét có chiều dài 90cm của Trịnh Thị T; 01 chổi quét có chiều dài 120cm của Nguyễn Thị L. (Theo phiếu nhập kho số NK 48 ngày 11/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.)
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015; Điểm đ, khoản 1 Điều 12, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn tiền án phí cho bị cáo Hoàng Văn X. Buộc bị cáo Nguyễn Thị L phải nộp 200.000đ tiền án phí HSST.
- Quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ Luật TTHS. Tuyên quyền kháng cáo bản án, cho các bị cáo, người bị hại trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hoá; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND huyện Yên Định; - Công an huyện Yên Định; - Bị cáo; Bị hại; - Chi cục THADS Yên Định; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hữu Thắng |