- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60 /2023/HS-ST Ngày 19/9/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ
- Với hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Duyên Hòa.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Hà Đình Sở
Bà Đinh Thị Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Mạnh Cường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Lương Ng Lâm - Kiểm sát viên.
Hôm nay ngày 19 tháng 9 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2023/TLST-HS ngày 19/7/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/QĐXXST - HS ngày 07/9/2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Đặng Văn T, sinh ngày 24/7/1984 tại Tam Nông, Phú Thọ; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Khu 2, xã Tề Lễ, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Văn hoá: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Bố đẻ: Đặng Văn Xuân (đã chết); Mẹ đẻ: Kiều Thị Hợi, sinh năm 1959; Vợ: Phùng Thị Hà, sinh năm 1984; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2021; Tiền án: Bản án số 47/2016/HSPT ngày 09/11/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú thọ xử phạt Đặng Văn T 6 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; ngoài ra Đặng văn T còn phải bồi thường cho đại diện gia đình bị hại số tiền 78.951.491 đồng. Bị cáo T chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương ngày 14/9/2020 theo Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số 869/GCN của Trại giam Tân Lập. Quá trình xác minh Đặng Văn T chưa bồi thường số tiền 78.951.491 đồng, do vậy chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm tạm giam từ ngày từ ngày 09/11/2022. Hiện bị cáo đang thi hành Lệnh tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ.
2. Họ và tên: Hà Xuân T, sinh ngày 01/9/1982 tại Thanh Sơn, Phú Thọ; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Khu Soi Cả, xã Sơn Hùng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; Dân tộc: Mường; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Văn hoá: 05/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Bố đẻ: Hà Quang Lương (đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Hà, sinh năm 1959; Vợ: Phan Thị An, sinh năm 1983 (đã ly hôn); Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không; Lịch sử bản thân: Tại Bản án số 27/2016/HSST ngày 20/7/2016 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, T bị xử phạt 06 tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm tạm giam từ ngày từ ngày 09/11/2022. Hiện bị cáo đang thi hành Lệnh tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ.
3. Họ và tên: Phạm Ánh Ng, sinh ngày 09/10/1993 tại Thanh Sơn, Phú Thọ; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT: Phố Khánh, thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; Nơi ở: Xóm Chanh, xã Sơn Hùng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Bố đẻ: Phạm Trọng Thái (đã chết); Mẹ đẻ: Vương Thị Mạnh, sinh năm 1969; Vợ: Kiều Diệu Thúy, sinh năm 1994; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án: 02 tiền án. Tại bản án số 20/2017/HSST ngày 25/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn xử phạt 05 tháng tù về tội “Đánh bạc”, phạt bổ sung 8.000.000 đồng. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 21/11/2022 mới chấp hành xong hình phạt bổ sung. Chưa được xóa án tích. Tại bản án số 04/2020/HSST ngày 20/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù. Ngày 14/02/2021 chấp hành xong án phạt tù theo Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số 269/GCN của Trại giam Thanh Lâm. Chưa được xóa án tích.
Tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm tạm giam từ ngày từ ngày 09/11/2022. Hiện bị cáo đang thi hành Lệnh tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ.
(Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Hồng Q, sinh năm 1990. (Có mặt)
Địa chỉ: Khu Ng Sơn 1, xã Sơn Hùng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
2. Chị Lò Thị T, sinh năm 2007. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Bản Mè, xã Ta Gia, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Tiên: Ông Bùi Đức Dũng – Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Thọ.
3. Chị Lường Thị L, sinh năm 2008. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Bản Noong Kim, xã Trung Đồng, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Lan: Ông Lã Thành Công – Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Thọ.
4. Chị Đinh Thị Y, sinh năm 2004. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thông 12, xã Lập Lễ, huyện T Nguyên, thành phố Hải Phòng.
5. Chị Đinh Diệu Q, sinh năm 2007. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu 5, xã Yên Lương, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Quỳnh: Bà Đinh Thị Hạnh – Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Thọ.
Néi dung vô ¸n:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 04 giờ 30 phút ngày 02/11/2022, Công an huyện Thanh Sơn nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại nhà trọ của ông Nguyễn Chí Thanh, (sinh năm 1979 ở Phố Hạ Sơn, thị trấn Thanh Sơn, thị trấn Thanh Sơn, huyện Phú Thọ) có một số đối tượng đang sử dụng ma túy nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện tại gian phòng ngủ tầng một nhà trọ của ông Nguyễn Chí Thanh có 08 đối tượng gồm Đặng Văn T, Nguyễn Hồng Quân, Phạm Ánh Ng, Hà Xuân T, Lường Thị Lan, Lò Thị Tiên, Đinh Thị Yến, Đinh Diệu Quỳnh có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra phát hiện thu giữ: 01 đĩa sứ màu trắng, đã cũ, bên trên có bám dính chất bột màu trắng; 01 (một) bật lửa gas màu trắng - xanh, đã cũ; 01 (một) thẻ nhựa màu tím, đã cũ; 01 (một) tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng được cuộn tròn thành ống hút hình trụ tròn bên trong bám dính chất bột màu trắng; Tiền Việt Nam đồng: 4.300.000 đồng. Công an huyện Thanh Sơn đã tiến hành niêm phong 01 (một) đĩa sứ màu trắng; 01 (một) thẻ nhựa màu tím, đã cũ và 01 (một) tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng được cuốn thành ống hút vào một thùng bìa các tông để phục vụ giám định.
Tiến hành test nhanh chất ma túy đối với Đặng Văn T, Phạm Ánh Ng, Nguyễn Hồng Quân, Hà Xuân T, Lường Thị Lan, Lò Thị Tiên, Đinh Thị Yến và Đinh Diệu Quỳnh đều cho kết quả dương tính với chất ma túy.
Xét thấy vụ việc có dấu hiệu của tội phạm hình sự, ngày 02/11/2022, Công an huyện Thanh Sơn đã ra Quyết định chuyển vụ việc hành chính có dấu hiệu tội phạm cho Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Sơn tiến hành thụ lý, giải quyết.
Ngày 02/11/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Sơn đã trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ giám định vật chứng thu giữ.
Tại kết luận giám định số 1513/KL-KTHS ngày 04/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận: Chất bột màu trắng bám dính trên (01) đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa màu tím, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng được niêm phong trong thùng bìa cát tong ghi “Vật chứng thu giữ tại nhà trọ của Đặng Văn T tại phố Hạ Sơn, thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ ngày 02/11/2022” gửi đến giám định là Ma túy, loại Ketamine.
Ketamine là chất ma túy, có số thứ tự 40, Danh mục III, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Trên cơ sở điều tra và kết luật giám định chất ma túy, ngày 09/11/2022 Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Sơn đã ra Quyết định Khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Đặng Văn T, Hà Xuân T và Phạm Ánh Ng về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Đặng Văn T, Hà Xuân T và Phạm Ánh Ng. Viện kiểm sát đã phê chuẩn Quyết định khởi tố bị can và Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Đặng Văn T, Hà Xuân T và Phạm Ánh Ng.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Sơn đã tiến hành điều tra, xác định diễn biến hành vi phạm tội của Đặng Văn T, Hà Xuân T và Phạm Ánh Ng như sau: Tối ngày 01/11/2022, Đặng Văn T cùng Phạm Ánh Ng, Hà Xuân T, Nguyễn Hồng Quân và một số người bạn đi uống rượu tại quán ốc vỉa hè thuộc khu Cầu Đất, thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn. Đến khoảng gần 00 giờ 30 ngày 02/11/2022, T nhờ T và Quân đưa T về nhà trọ ở Phố Hạ Sơn, thị trấn Thanh Sơn. Khi trên đường về nhà trọ, T sử dụng số điện thoại 0397.397.990 gọi điện đến số điện thoại 0329.702.222 của Phạm Ánh Ng rủ Ng đến nhà trọ của T. Khoảng 30 phút sau, Ng đi xe máy đến nhà trọ của T, tại đây, T, T, Ng và Quân rủ nhau mua ma túy loại “Kẹo” và “Ke” về để cùng sử dụng. Do T và Quân không có tiền để góp nên T và Ng cùng góp được số tiền 3.500.000đ (T góp 500.000 đồng, Ng góp 3.000.000 đồng) đưa cho T để T mua ma túy. Quá trình góp tiền để mua ma túy, T, Ng và T có bảo Quân góp tiền nhưng Quân không có tiền nên không góp và nói “Để mai tính sau”. Sau khi nhận được tiền, T dùng điện thoại gọi cho một người đàn ông tên Long nhà ở huyện Thanh T, tỉnh Phú Thọ (T không biết người này tên thật là gì và ở đâu) để mua ma túy được người này đồng ý bán cho 4 viên ma túy “Kẹo” và “nửa chỉ” ma túy Ketamine và hẹn sẽ mang ma túy vào thị trấn Thanh Sơn cho T. Khoảng 30 phút sau, Long gọi điện cho T ra cửa để lấy ma túy được đựng trong 01 gói giấy màu trắng. Sau khi mua được ma túy thì T vào để toàn bộ số ma túy mua được trên đệm trong phòng ngủ tầng 1 nhà trọ của T. Sau đó, T, T, Ng và Quân cùng sử dụng ma túy “Kẹo” trước. Đến khoảng gần 3 giờ cùng ngày, T gọi cho Tòng Thị Hương, sinh năm 2004, thường trú xã Trung Đồng, huyện Tân Uyên, thành phố Lai Châu để bảo 4 người gồm Lường Thị Lan, Lò Thị Tiên, Đinh Thị Yến và Đinh Diệu Quỳnh đến nhà trọ của T. Khi Lan, Tiên, Yến và Quỳnh đến nhà trọ thấy T, T, Ng và Quân đang sử dụng ma túy nên cả 4 cũng vào sử dụng ma túy, T ngồi cạnh Lan, Quân ngồi cạnh Quỳnh, Ng ngồi cạnh Tiên còn T ngồi cạnh Yến. Quá trình sử dụng ma túy, Nguyễn Hồng Quân đã lấy một phần ma túy “Kẹo” đang để trên đệm đưa cho Quỳnh sử dụng, còn Lan, Tiên và Yến tự sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng hết ma túy “Kẹo”, Ng là người đổ ma túy ra đĩa sứ rồi lấy thẻ nhựa (thẻ ATM của ngân hàng) để nghiền ma túy Ketamine trên đĩa sứ ra dạng bột mịn cho mọi người cùng nhau sử dụng. Sau khi Quân sử dụng ma túy Ketamine xong, Quân đã đưa đĩa sứ có chứa ma túy Ketamine cho Quỳnh để Quỳnh sử dụng. Sau khi sử dụng hết ma túy đến khoảng 4 giờ 30 phút cùng ngày thì Công an huyện Thanh Sơn đến kiểm tra, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Đặng Văn T khai nhận: Tối ngày 01/11/2022, T đi uống rượu cùng anh Phạm Ánh Ng, Hà Xuân T, Nguyễn Hồng Quân và một số người bạn của T ở tại quán ốc vỉa hè khu Cầu Đất, thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn. Đến ngày 02/11/2022, T nhờ T và Quân đưa T về nhà trọ ở Phố Hạ Sơn, thị trấn Thanh Sơn. Khi về đến nơi, T rủ T sử dụng ma túy, T nói không có tiền và không tham gia. Do T say rượu nên đi vệ sinh, khi vào T thấy có thêm Ng đến thì T và Ng bàn nhau góp tiền để mua ma túy. Lúc này, T bảo T góp tiền thì T nói không có tiền, T cũng rủ Quân góp tiền thì Quân nói “Anh em cứ bỏ ra trước đi, mai có gì tính sau”. Sau đó, Ng và T góp được số tiền 3.500.000đ và đưa cho T nhờ T gọi điện mua ma túy “Kẹo” và “Ke”. T dùng điện thoại của T gọi cho một người đàn ông tên Long nhà ở huyện Thanh T, tỉnh Phú Thọ để mua ma túy được người này đồng ý bán cho 4 viên ma túy “Kẹo” và “nửa chỉ” ma túy Ketamine với giá tiền là 3.500.000đ và hẹn 30 phút sau sẽ mang ma túy vào Thanh Sơn cho T. Khoảng 30 phút sau, Long gọi điện cho T ra cửa để lấy ma túy được đựng trong 01 gói giấy màu trắng. Sau khi mua được ma túy thì T vào để toàn bộ số ma túy mua được trên đệm ở vị trí của Ng đang ngồi rồi đi vệ sinh. Khi quay lại phòng ngủ, Ng đưa cho T một phần của viên ma túy “Kẹo” dạng viên nén màu nâu bạc. T tiếp tục bẻ ra làm hai phần và sử dụng hết một phần. Còn Quân, Ng và T sử dụng ma túy “Kẹo” như thế nào T không rõ. Đến khoảng gần 3 giờ cùng ngày, do T có 4 nhân viên gồm Lường Thị Lan, Lò Thị Tiên, Đinh Thị Yến và Đinh Diệu Quỳnh không có chỗ ngủ nên T có gọi cho Tòng Thị Hương hay còn gọi là “Trâm” cũng là nhân viên của T để bảo Lan, Tiên, Yến và Quỳnh lên nhà trọ ở Phố Hạ Sơn để ngủ. Khi Lan, Tiên, Yến và Quỳnh đến thì thấy T, T, Ng và Quân đang sử dụng ma túy nên cả 4 cũng vào sử dụng ma túy. Lúc này, T vẫn còn một nửa viên ma túy “Kẹo” nên T đưa cho Quỳnh cùng sử dụng, tuy nhiên Quỳnh nói không sử dụng nên khi đi vệ sinh, T đã bỏ viên ma túy “Kẹo” này vào bồn cầu vệ sinh. Còn Lan, Tiên, Yến thì T không rõ ai đưa. Quá trình sử dụng ma túy, T ngồi cạnh Lan, Quân ngồi cạnh Quỳnh, Ng ngồi cạnh Tiên còn T ngồi cạnh Yến. Sau khi sử dụng hết ma túy “Kẹo”, Ng là người đổ ma túy Ketamine ra đĩa sứ và sử dụng thẻ nhựa ngân hàng để nghiền ma túy ra dạng bột cho mọi người cùng sử dụng. Sau khi sử dụng hết ma túy đến khoảng 4 giờ 30 ngày 02/11/2022 thì có Cơ quan Công an đến kiểm tra.
Phạm Ánh Ng khai nhận: Tối ngày 01/11/2022, Ng đi uống rượu cùng Đặng Văn T, Hà Xuân T, Nguyễn Hồng Quân và một số người bạn của Ng tại quán ốc vỉa hè Phố Cầu Đất, thị trấn Thanh Sơn, huyệnThanh Sơn, tỉnh Phú Thọ và đi về nhà trước. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 02/11/2022, khi Ng đang ở nhà thì T gọi điện cho Ng rủ Ng đến nhà trọ của T ở Phố Hạ Sơn, thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn chơi. Khoảng 30 phút sau thì Ng đến nhà trọ của T, khi đến nơi, Ng thấy có T, T và Quân đang ở trong phòng ngủ tầng một. T hỏi Ng có tiền không góp tiền để mua ma túy về sử dụng. Ng đồng ý và góp số tiền 3.000.000đ, T góp 500.000đ được tổng số tiền 3.500.000đ, Ng đưa tiền cho T để T mua ma túy “Kẹo” và “Ke”. Quá trình bàn bạc góp tiền mua ma túy thì T nói không có tiền, góp được bao nhiêu thì đưa cho T để mua ma túy, Quân thì nói “Anh em bỏ tiền ra trước đi, mai tính sau”. Sau đó, T gọi điện cho ai đó để mua ma túy Ng không rõ. Khoảng 30 phút sau thì có người gọi T ra ngoài cửa nhà để lấy ma túy. Khi T vào, Ng thấy T cầm một gói giấy trắng, T mở ra bên trong có 4 viên ma túy “Kẹo” và một túi nilon đựng ma túy Ketamine. Sau đó, T bẻ ma túy “Kẹo” đưa cho Ng một nửa viên rồi để số còn lại ở đệm. Lúc này Quân đi vệ sinh còn T được đưa ma túy như thế nào Ng không rõ. Sau khi Quân vào thì Quân tự lấy ma túy “Kẹo” để sử dụng. Khi sử dụng ma túy được một lúc thì T nói “để anh gọi mấy đứa nhân viên ở nhà lên đây ngồi cùng cho vui”, Ng hiểu là gọi nhân viên lên để sử dụng ma túy cùng. Ng thấy T đi ra ngoài một lúc, khoảng 30 phút sau thì thấy có 04 nhân viên của T là Lan, Tiên, Yến và Quỳnh đến. Lúc này, Ng ngồi cạnh Tiên, T ngồi cạnh Yến, Lan ngồi cạnh T, Quỳnh ngồi cạnh Quân. Khi đó, ma túy “Kẹo” đang được để ở trên đĩa sứ, trên đệm, Ng thấy Tiên và Yến tự lấy một phần của viên ma túy “Kẹo” sử dụng, Lan sử dụng như thế nào Ng không rõ, còn Quỳnh được Quân đưa cho một phần ma túy “Kẹo” để sử dụng. Sau khi sử dụng hết ma túy “Kẹo”, Ng tự lấy thẻ nhựa (thẻ ATM của ngân hàng) để nghiền ma túy Ketamine trên đĩa ra dạng bột mịn cho mọi người cùng nhau sử dụng. Bản thân Ng tự sử dụng 02 “đường ke”, còn người khác sử dụng như thế nào Ng không rõ. Đến khoảng 4 giờ 30 phút cùng ngày, khi đã sử dụng hết ma túy thì có Cơ quan Công an đến kiểm tra.
Hà Xuân T khai nhận: Tối ngày 01/11/2022, T đi uống rượu cùng Đặng Văn T, Phạm Ánh Ng, Nguyễn Hồng Quân và một số người bạn ở quán ốc vỉa hè Phố Cầu Đất, thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 02/11/2022, T cùng Quân đang chuẩn bị về nhà thì Đặng Văn T nhờ đưa T về nhà trọ của T ở Phố Hạ Sơn, thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn. Trên đường về thì T có nói với T và Quân là rủ Ng lên phòng trọ để sử dụng ma túy và bảo T gọi cho Ng lên nhà trọ của T. T có lấy điện thoại ra gọi cho Ng và bảo Ng lên nhà trọ của T. Khoảng 30 phút sau thì Ng đến nhà trọ của T, tại đây, T nói với T và Ng về nội dung góp tiền để mua ma túy về sử dụng. T nói “hôm nay tôi không có tiền, ai có tiền thì bỏ ra đi”, Quân nói “Anh em bỏ ra trước đi, mai tính sau”, T và Ng đều đồng ý, Ng nói đang có 3.000.000đ, T có 500.000đ nên T cũng đưa cho Ng cầm. Ng cầm số tiền 3.500.000đ và đưa cho T để mua ma túy “Kẹo” và “Ke”. Sau đó, T gọi điện cho ai đó để mua ma túy T không rõ, khoảng hơn 30 phút sau thì có người gọi T ra cửa để lấy ma túy được 4 viên ma túy “Kẹo” và “nửa chỉ” ma túy Ketamine. Sau khi có ma túy, T cùng T, Ng và Quân vào phòng ngủ tầng 1 để sử dụng ma túy. Khi vào phòng, T là người bẻ một phần của viên ma túy “Kẹo” đưa cho T để T sử dụng. Quân, T và Ng cũng sử dụng ma túy “Kẹo” cùng T. Sau khi sử dụng ma túy “Kẹo”, T nghe thấy T nói “để tôi gọi mấy đứa nhân viên nhà tôi lên chơi cùng cho vui”, T hiểu là gọi lên để cùng sử dụng ma túy. Đến khoảng 3 giờ, thì có 04 người gồm Lan, Tiên, Yến và Quỳnh đến, T ngồi cạnh Yến, còn Lan ngồi cạnh T, Tiên ngồi cạnh Ng, Quỳnh ngồi cạnh Quân, những người này sử dụng ma túy “Kẹo” như thế nào T không rõ. Sau khi sử dụng hết ma túy “Kẹo”, T thấy Ng sử dụng thẻ nhựa (thẻ ATM của ngân hàng) nghiền ma túy Ketamine ở trong đĩa sứ màu trắng. T không rõ ai bỏ ma túy ra và ai chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy Ketamine. Sau khi Ng nghiền ma túy Ketamine ra dạng bột xong thì Ng có bảo T cầm túi nilon màu trắng là túi đựng ma túy Ketamine ra vứt vào bồn cầu và xả đi. Khi T quay lại thì thấy ma túy Ketamine đã được “kẻ” ra thành nhiều “đường” trên đĩa sứ và để trên đệm. T có tự cầm đĩa sứ lên và hít 02 “đường”. Những người còn lại thì đã sử dụng xong từ trước như thế nào T không rõ. Đến khoảng 4 giờ 30 cùng ngày, khi vừa sử dụng hết ma túy, đang ngồi nghe nhạc thì có Cơ quan Công an đến kiểm tra.
Nguyễn Hồng Quân khai nhận: Tối ngày 01/11/2022, Quân đi uống rượu cùng Đặng Văn T, Phạm Ánh Ng, Hà Xuân T và một số người bạn ở quán ốc vỉa hè Phố Cầu Đất, thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn. Đến khoảng 1 giờ 30 ngày 02/11/2022, Quân cùng T đang trên đường đi về nhà thì T gọi điện nhờ T cùng Quân đưa T về nhà trọ của T ở Phố Hạ Sơn, thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn. Trên đường về thì T rủ T và Quân có chơi “đồ” không và bảo T gọi cho Ng lên nhà trọ của T. Sau đó, T đã sử dụng điện thoại gọi cho Ng đến nhà trọ của T. Khoảng 30 phút sau thì Ng đến nhà trọ của T. Khi Ng đến, Quân thấy T, Ng và T bàn nhau góp tiền mua ma túy, Quân hiểu là mua ma túy về sử dụng. Bản thân Quân cũng được T, T và Ng bảo góp tiền để mua ma túy nhưng vì Quân không có tiền nên không tham gia góp. Sau đó T đưa cho Ng số tiền 500.000đ, Ng lấy thêm tiền trong túi rồi đưa cho T, số tiền như thế nào Quân không rõ, bản thân Quân không góp tiền. Mọi người bàn nhau mua ma túy như thế nào Quân không rõ. Sau đó, T gọi điện cho ai đó để mua ma túy, khoảng 30 phút sau thì có người gọi T ra cửa để lấy ma túy. Sau khi có ma túy, T, T và Ng vào phòng ngủ tầng một sử dụng ma túy trước, Quân đi vệ sinh vào sau thì thấy có sẵn một phần của viên ma túy “Kẹo” để trên điện thoại của Quân, T bảo Quân “chơi đi” thì Quân cầm một phần của viên ma túy “Kẹo” và tự sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy “Kẹo”, Quân nghe thấy mọi người nói “Tý nữa nhân viên nữ lên”, Quân không rõ cụ thể là ai nói, sau đó T ra ngoài gọi điện cho ai đó, trao đổi nội dung gì Quân không biết. Đến khi 04 người gồm Lan, Tiên, Yến và Quỳnh lên thì Quân mới biết đây là nhân viên của T. Khi 4 người này đến thấy Quân, T, T và Ng đang ở trong phòng thì cũng vào để cùng sử dụng ma túy. Lúc này, ma túy “Kẹo” đang để sẵn ở trên đệm, Ng nói với Quân “người yêu anh đấy”, thì Quân thấy Quỳnh đang ngồi sau Quân với lấy viên ma túy “Kẹo”, Quân lấy một phần viên ma túy “Kẹo” đang để trên đệm để đưa cho Quỳnh sử dụng. Còn Lan ngồi gần T, Tiên ngồi gần Ng, Yến ngồi gần T, những người này sử dụng ma túy như thế nào Quân không rõ. Sau khi sử dụng hết ma túy “Kẹo” thì Quân thấy Ng sử dụng thẻ nhựa nghiền ma túy Ketamine ở trong đĩa sứ màu trắng. Quân không rõ ai bỏ ma túy ra và ai chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy Ketamine. Sau khi Ng nghiền ma túy Ketamine và “kẻ” ra thành nhiều “đường” xong thì tất cả cùng sử dụng. Bản thân Quân có cầm đĩa ma túy Ketamine để sử dụng, sau khi sử dụng xong, do Quỳnh ngồi gần Quân nên Quân có đưa đĩa sứ có chứa ma túy Ketamine cho Quỳnh cùng sử dụng. Đến khoảng 4 giờ 30 cùng ngày, khi đã sử dụng hết ma túy thì có Cơ quan Công an đến kiểm tra.
Tiến hành làm việc Đinh Diệu Quỳnh, khai nhận: Khoảng 3 giờ ngày 02/11/2022, Quỳnh cùng Lan, Tiên và Yến đến nhà trọ của Đặng Văn T ở Phố Hạ Sơn, thị trấn Thanh Sơn. Khi đến nơi, Quỳnh thấy T, Ng, T và Quân đang sử dụng ma túy nên cùng vào phòng để cùng sử dụng ma túy. Quỳnh không được ai rủ rê và ép buộc phải sử dụng ma túy. Khi ở trong phòng, Quỳnh thì được Quân đưa cho một phần của viên ma túy “Kẹo” để sử dụng. Sau khi sử dụng hết ma túy “Kẹo”, Ng cầm đĩa sứ và thẻ nhựa nghiền ma túy Ketamine và đưa cho mọi người sử dụng. Riêng Quỳnh thì được Quân đưa cho đĩa sứ có chứa ma túy Ketamine để sử dụng. Đến khoảng 4 giờ 30 phút cùng ngày, khi đã sử dụng ma túy xong thì có Cơ quan Công an đến kiểm tra.
Tiến hành làm việc Đinh Thị Yến, Lường Thị Lan và Lò Thị Tiên khai nhận như sau: Khoảng 2 giờ 30 phút ngày 02/11/2022, Yến, Lan, Tiên và Quỳnh đang ở nhà trọ ở Khu Thống Nhất, thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn thì Đặng Văn T gọi điện cho chị Tòng Thị Hương, (sinh năm 2004, thường trú xã Trung Đồng, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu) (là người cùng ở trọ) bảo Yến, Lan, Tiên và Quỳnh lên nhà trọ của T ở Phố Hạ Sơn, thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn ngủ. Sau đó Lan, Tiên, Yến và Quỳnh đi ăn đêm rồi đi taxi đến nhà trọ của T. Khi đến nơi thì thấy trong phòng ngủ tầng một có T, Quân, Ng và T đang sử dụng ma túy. Lúc này Lan đi vệ sinh còn Yến, Tiên và Quỳnh vào phòng trước. Khi vào phòng thì cả Yến, Lan và Tiên đều sử dụng ma túy “Kẹo”. Sau khi sử dụng ma túy “Kẹo” xong, Ng là người nghiền ma túy Ketamine trên đĩa để tất cả mọi người cùng sử dụng. Cả Lan, Tiên và Yến không rõ người khác sử dụng ma túy như thế nào. Đến khoảng 4 giờ 30 phút cùng ngày, khi đã sử dụng ma túy xong thì có Cơ quan Công an đến kiểm tra thu giữ toàn bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Sơn đã tiến hành xác định hiện trường nơi xảy ra vụ việc tại căn nhà số 034 thuộc Phố Hạ Sơn, thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Sơn đã tiến hành đối chất giữa Nguyễn Hồng Quân và Đinh Diệu Quỳnh. Kết quả cả Quân và Quỳnh đều khai nhận nội dung ngày 02/11/2022, Quân có hành vi đưa đĩa sứ bên trên có chứa ma túy loại Ketamine cho Quỳnh để sử dụng.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Sơn đã tiến hành đối chất giữa Đặng Văn T và Phạm Ánh Ng, đối chất giữa Hà Xuân T và Phạm Ánh Ng, đối chất giữa Đặng Văn T, Phạm Ánh Ng, Hà Xuân T với Nguyễn Hồng Quân. Kết quả, các đối tượng đều giữ nguyên lời khai của bản thân.
Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại Samsung Galaxy A20S, màu đen, lắp sim số: 0397.397.990 của Hà Xuân T. Kết quả: có 02 cuộc gọi tới số điện thoại 0329.702.222 lưu “Ịt Thái” thời gian 00 giờ 21 phút và 00 giờ 24 phút ngày 02/11/2022.
Tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại nhãn hiệu IPHONE 14 PROMAX, màu tím, bên trong gắn sim số 0329.702.222 của Phạm Ánh Ng. Kết quả: Hồi 00 giờ 22 phút ngày 02/11/2022, có 01 cuộc gọi nhỡ từ số điện thoại 0363.331.858 lưu “A. Tuan Xuan”. Ng khai, các cuộc gọi từ 00 giờ 20 phút đến 00 giờ 30 phút ngày 02/11/2022 với Hà Xuân T đã được Ng xóa sau khi kết thúc cuộc gọi.
Về nguồn gốc số ma túy có để sử dụng vào ngày 02/11/2022, Đặng Văn T khai nhận đã sử dụng một sim số điện thoại “rác” để gọi điện liên hệ với người đàn ông tên Long nhà ở huyện Thanh T, tỉnh Phú Thọ để mua ma túy. Bản thân T không biết rõ tên, tuổi địa chỉ của Long. Sau khi mua được ma túy, T đã tháo sim điện thoại này và vứt vào bồn cầu vệ sinh. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Đặng Văn T, Hà Xuân T và Phạm Ánh Ng đã khai nhận toàn bộ hành vi bán góp tiền sau đó mua ma túy cùng nhau sử dụng và các đối tượng khác sử dụng như đã nêu trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ được Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Sơn thu thập, xác lập có trong hồ sơ vụ án.
Những người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đề nghị giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số: 42/CT-VKSThs ngày 19/7/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn để xét xử đối với các bị cáo Đặng Văn T, Hà Xuân T và Phạm Ánh Ng về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm b, c Khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Đặng Văn T.
Xö ph¹t: Đặng Văn T tõ 07 năm 06 tháng ®Õn 08 năm tï, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09/11/2022.
Áp dụng: Điểm b, c Khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Hà Xuân T.
Xö ph¹t: Hà Xuân T tõ 07 năm ®Õn 07 năm 06 th¸ng tï, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09/11/2022.
Áp dụng: Điểm b, c, h Khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Phạm Ánh Ng.
Xö ph¹t: Phạm Ánh Ng tõ 07 năm ®Õn 07 năm 06 th¸ng tï, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09/11/2022.
MiÔn ¸p dông h×nh ph¹t bæ sung ®èi víi các bÞ c¸o Đặng Văn T, Hà Xuân T và Phạm Ánh Ng theo quy định tại khoản 5 Điều 255 BLHS.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 đĩa sứ màu trắng; 01 thẻ nhựa màu tím (Thẻ TP Bank, ghi Nguyen Duc Tuan) cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong trong 01 thùng bìa cát tong, bên ngoài có dán 02 tờ niêm phong, trên mỗi tờ niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 02 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự.
+ 01 (một) bật lửa gas màu trắng - xanh, đã cũ;
+ Sim số điện thoại 0363.331.858 và sim số 0983.568.858 thu giữ của Đặng Văn T;
- Tịch thu bán sung công quỹ Nhà nước:
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, đã cũ thu giữ của Đặng Văn T;
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng được niêm phong trong Bì giấy số 01, bên ngoài có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong tại các mép dán.
- Trả lại cho chủ sở hữu:
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu xanh, đã cũ, bên trong gắn sim số 0971.690.618 thu giữ của Nguyễn Hồng Quân;
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu đen, đã cũ và sim số 0397.397.990 thu giữ của Hà Xuân T;
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu tím, đã cũ và sim số 0329.702.222 thu giữ của Phạm Ánh Ng;
+ Trả lại 4.300.000 đồng thu giữ của Phạm Ánh Ng nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
+ Trả lại 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, màu đỏ đen, mang BKS: 19T1-82.47, xe không có gương chiếu hậu, đã qua sử dụng cho Hà Xuân T.
- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Piagio màu xanh, mang BKS: 19P1-048.79, xe không có gương chiếu hậu đã qua sử dụng. Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Sơn đã tiến hành điều tra, xác định: chiếc xe mô tô nhãn hiệu Piagio, màu trắng (được dán đề can màu xanh), mang BKS: 19P1- 048.79 thuộc quyền sở hữu của anh Hà Tất Thắng, sinh năm: 1991, thường trú phố Khánh, thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Ngày 01/11/2022, Phạm Ánh Ng mượn xe của anh Thắng với mục đích để đi chơi. Bản thân anh Thắng không biết và không tham gia vào việc sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Ánh Ng. Ngày 05/3/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Sơn đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản chiếc xe mô tô nhãn hiệu Piagio, màu trắng (được dán đề can màu xanh), mang BKS: 19P1-048.79 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Hà Tất Thắng là phù hợp.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo Đặng Văn T, Hà Xuân T và Phạm Ánh Ng rất hối hận về hành vi vi phạm pháp luật của mình, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo lấy đó làm bài học cho bản thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra - Công an huyện Thanh Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng theo quy định của pháp luật.
. Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với các bị cáo: T¹i phiªn toµ h«m nay các bÞ c¸o Đặng Văn T, Hà Xuân T và Phạm Ánh Ng ®· khai nhËn toàn bộ hµnh vi ph¹m téi cña m×nh như néi dung bản c¸o tr¹ng ®· nªu, thõa nhËn néi dung c¸o tr¹ng truy tè lµ ®óng, kh«ng cã g× oan sai. Lêi khai nhËn cña các bÞ c¸o được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ 1 giờ 00 phút ngày 02/11/2022, tại phòng trọ của Đặng Văn T, Hà Xuân T và Phạm Ánh Ng đã có hành vi thỏa thuận góp 3.500.000 đồng sau đó đưa cho T mua ma túy Kẹo và Katamine về để cùng sử dụng. Quá trình góp tiền mua ma túy T, T và Ng có bảo Nguyễn Hồng Quân góp tiền nhưng quân không có tiền nên không góp. Sau đó T liên lạc mua 04 viên ma túy “Kẹo” và nửa chỉ ma túy Ketamine. Sau khi mua được ma túy thì T để toàn bộ số ma túy mua được trên đệm trong phòng ngủ tầng 1 nhà trọ của T. Sau đó, T, T, Ng và Quân cùng sử dụng ma túy “Kẹo” trước. Đến khoảng gần 3 giờ cùng ngày, T gọi cho Tòng Thị Hương, sinh năm 2004, thường trú xã Trung Đồng, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu để bảo 4 người gồm Lường Thị Lan, Lò Thị Tiên, Đinh Thị Yến, Đinh Diệu Quỳnh đến nhà trọ của T. Khi Lan, Tiên, Yến và Quỳnh đến nhà trọ thấy T, T, Ng và Quân đang sử dụng ma túy nên cả 4 cũng vào sử dụng ma túy, T ngồi cạnh Lan, Quân ngồi cạnh Quỳnh, Ng ngồi cạnh Tiên còn T ngồi cạnh Yến. Quá trình sử dụng ma túy, Nguyễn Hồng Quân đã lấy một phần ma túy “Kẹo” đang để trên đệm đưa cho Quỳnh sử dụng, còn Lan, Tiên và Yến tự sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng hết ma túy “Kẹo”, Ng là người đổ ma túy ra đĩa sứ rồi lấy thẻ nhựa (thẻ ATM của ngân hàng) để nghiền ma túy Ketamine trên đĩa sứ ra dạng bột mịn cho mọi người cùng nhau sử dụng. Sau khi Quân sử dụng ma túy Ketamine xong, Quân đã đưa đĩa sứ có chứa ma túy Ketamine cho Quỳnh để Quỳnh sử dụng. Sau khi sử dụng hết ma túy đến khoảng 4 giờ 30 phút cùng ngày thì Công an huyện Thanh Sơn đến kiểm tra, thu giữ vật chứng.
Đối với bị cáo Đặng Văn T: Ngày 02/11/2022, Đặng Văn T đã có hành vi thỏa thuận cùng Hà Xuân T, Phạm Ánh Ng để mua ma túy về sử dụng đồng thời nhận tiền của T và Ng để trực tiếp liên hệ, mua ma túy loại “Kẹo” và Ketamine về cung cấp cho mọi người sử dụng. Khi đang sử dụng ma túy, T là người gọi Lan, Yến, Tiên và Quỳnh đến để cùng sử dụng ma túy, trong đó có Đinh Diệu Quỳnh, Lò Thị Tiên và Lường Thị Lan đều là trẻ vị thành niên dưới 18 tuổi. Hành vi trên của Đặng Văn T là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại Điểm b, Điểm c Khoản 2 Điều 255 BLHS.
Đối với bị cáo Phạm Ánh Ng: Ngày 02/11/2022, Ng đã có hành vi góp số tiền 3.000.000 đồng cùng với Hà Xuân T được tổng số tiền 3.500.000 đồng để đưa cho Đặng Văn T mua ma túy loại Ketamine và ma túy loại “Kẹo” về để sử dụng. Quá trình sử dụng ma túy, Ng là người trực tiếp thực hiện hành vi nghiền ma túy Ketamine ra dạng bột để cho T, Quân, T, Quỳnh, Tiên, Lan và Yến cùng sử dụng; trong đó có Đinh Diệu Quỳnh, Lò Thị Tiên và Lường Thị Lan đều là trẻ vị thành niên dưới 18 tuổi. Ngoài ra khi thực hiện hành vi phạm tội Phạm Ánh Ng có 02 tiền án chưa được xóa án tích Hành vi trên của Phạm Ánh Ng là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại Điểm b, Điểm c, Điểm h Khoản 2, Điều 255 BLHS.
Đối với bị cáo Hà Xuân T: Ngày 02/11/2022, T đã có hành vi góp số tiền 500.000đ cùng với Phạm Ánh Ng được tổng số tiền 3.500.000 đồng để đưa cho Đặng Văn T mua ma túy loại Ketamine và ma túy loại “Kẹo” về để sử dụng. Hành vi của T là đồng phạm với Đặng Văn T và Phạm Ánh Ng cung cấp ma túy cho Quân, T, Quỳnh, Tiên, Lan và Yến cùng sử dụng; trong đó có Đinh Diệu Quỳnh, Lò Thị Tiên và Lường Thị Lan đều là trẻ vị thành niên dưới 18 tuổi. Hành vi trên của Hà Xuân T là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại Điểm b, Điểm c Khoản 2 Điều 255 BLHS.
Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy:
“ 1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
…
b. Đối với 02 lần trở lên;
c) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;
…
h) Tái phạm nguy hiểm;
…”.
. Về tính chất, mức đô ̣ hậu quả hành vi phạm tô ̣i của các bị cáo: Hành vi pha ̣m t ội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưở ng x ấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã h ội ta ̣i đ ịa phương. Các bị cáo đều có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi v ới lỗi cố ý trực tiếp. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi pha ̣m pháp luật nhưng vẫn thực hiện nên các bị cáo phải chịu hậu quả về hành vi phạm t ội của mình.
. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Bị cáo Đặng Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và có ông nội là Đặng Văn Tuyết được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có 01 tiền án, với lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Hà Xuân T có nhân thân xấu, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Bị cáo Phạm Ánh Ng đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có 02 tiền án: Tại bản án số 20/2017/HSST ngày 25/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn xử phạt 05 tháng tù về tội “Đánh bạc”, phạt bổ sung 8.000.000 đồng. bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 21/11/2022 mới chấp hành xong hình phạt bổ sung. Chưa được xóa án tích. Tại bản án số 04/2020/HSST ngày 20/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù. Ngày 14/02/2021 chấp hành xong án phạt tù theo Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số 269/GCN của Trại giam Thanh Lâm. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù. Chưa được xóa án tích. Bị cáo Ng phải chịu tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 2 Điều 255 - BLHS nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt:
Hình pha ̣t chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm t ội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Xét thấy, hành vi của các bị cáo là nguy hi ểm cho xã hội. Do đó, cần thiết phải xử pha ̣t các bị cáo nghiêm khắc bằng hình pha ̣t tù, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội do các bị cáo gây ra mới có tác du ̣ng cải ta ̣o giáo du ̣ccác bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội pha ̣m. Mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn tại phiên tòa phù hợp với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần chấp nhận.
Hình ph¹t bæ sung: Theo quy ®Þnh t¹i kho¶n 5 §iÒu 255 Bé luËt h×nh sù năm 2015 th× các bÞ c¸o cßn cã thÓ ph¶i chÞu h×nh ph¹t bæ sung lµ hình phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy các bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
. Về vật chứng vụ án:
Đối với: 01 đĩa sứ màu trắng; 01 thẻ nhựa màu tím (Thẻ TP Bank, ghi Nguyen Duc Tuan) cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong trong 01 thùng bìa cát tong, bên ngoài có dán 02 tờ niêm phong, trên mỗi tờ niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 02 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự và 01 (một) bật lửa gas màu trắng - xanh, đã cũ là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với sim số điện thoại 0363.331.858 và sim số điện thoại 0983.568.858 thu giữ của Đặng Văn T, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, đã cũ thu giữ của Đặng Văn T, bị cáo sử dụng vào việc phạm tôi nên cần tịch thu bán sung quỹ Nhà nước là phù hợp.
Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng được niêm phong trong Bì giấy số 01, bên ngoài có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong tại các mép dán. Các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần sung quỹ Nhà nước là phù hợp
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu xanh, đã cũ, bên trong gắn sim của số 0971.690.618 thu giữ của Nguyễn Hồng Quân; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu đen, đã cũ và sim số 0397.397.990 thu giữ của Hà Xuân T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu tím, đã cũ và sim số 0329.702.222 thu giữ của Phạm Ánh Ng. Không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho chủ sở hữu.
Đối với 4.300.000 đồng thu giữ của Phạm Ánh Ng, số tiền này không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho Ng nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
Đối với 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, màu đỏ đen, mang BKS: 19T1-82.47, xe không có gương chiếu hậu, đã qua sử dụng thu giữ của Hà Xuân T không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Piagio màu xanh, mang BKS: 19P1-048.79, xe không có gương chiếu hậu đã qua sử dụng. Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Sơn đã tiến hành điều tra, xác định: chiếc xe mô tô nhãn hiệu Piagio, màu trắng (được dán đề can màu xanh), mang BKS: 19P1- 048.79 thuộc quyền sở hữu của anh Hà Tất Thắng, sinh năm: 1991, thường trú phố Khánh, thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Ngày 01/11/2022, Phạm Ánh Ng mượn xe của anh Thắng với mục đích để đi chơi. Bản thân anh Thắng không biết và không tham gia vào việc sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Ánh Ng. Ngày 05/3/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Sơn đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản chiếc xe mô tô nhãn hiệu Piagio, màu trắng (được dán đề can màu xanh), mang BKS: 19P1-048.79 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Hà Tất Thắng là phù hợp nên cần xác nhận.
. Về các vấn đề khác:
Đối với Nguyễn Hồng Quân: Ngày 02/11/2022, Nguyễn Hồng Quân đã có hành vi đưa ma túy loại “Kẹo” và ma túy Ketamine cho Đinh Diệu Quỳnh để Quỳnh sử dụng. Về nguồn gốc ma túy là do Phạm Ánh Ng và Hà Xuân T góp tiền để Đặng Văn T mua về sử dụng; Quân không góp tiền mua ma túy, tuy nhiên, việc T, Ng và T bàn bạc mua ma túy về để sử dụng thì Quân có biết và đã cùng tham gia sử dụng ma túy, do vậy xác định Quân có chung ý chí với T, T và Ng. Căn cứ Công văn số 89 ngày 30/6/2020 của Tòa án nhân dân tối cao, xác định hành vi nêu trên của Nguyễn Hồng Quân có dấu hiệu phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 255 BLHS. Tuy nhiên, kết quả điều tra thể hiện Nguyễn Hồng Quân không góp tiền với T và Ng để đưa cho Đặng Văn T mua ma túy về để sử dụng. Quân cũng không tham gia và không bàn bạc về việc gọi Lan, Quỳnh, Tiên và Yến đến nhà trọ của T để sử dụng ma túy. Quá trình sử dụng ma túy, Quân không phải là người bẻ ma túy “Kẹo” và “Nghiền”, “Kẻ” ma túy Ketamine cho các đối tượng cùng nhau sử dụng. Vì vậy, xác định Nguyễn Hồng Quân không có hành vi cung cấp ma túy cho Quỳnh để Quỳnh sử dụng. Do vậy, hành vi của Nguyễn Hồng Quân không cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 255 Bộ luật hình sự. Ngày 02/11/2022, Nguyễn Hồng Quân đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà trọ của Đặng Văn T ở Phố Hạ Sơn, thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn. Kết quả Test nhanh chất ma túy đối với Nguyễn Hồng Quân cho kết quả Dương tính với ma túy. Công an huyện Thanh Sơn đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Hồng Quân về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Khoản 1, Điều 23, Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ.
Đối với Đinh Thị Yến: Ngày 02/11/2022, Đinh Thị Yến đã có hành vi sử dụng ma túy loại “Kẹo” và Ketamine tại nhà trọ của Đặng Văn T ở Phố Hạ Sơn, thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn. Kết quả Test nhanh chất ma túy đối với Đinh Thị Yến cho kết quả Dương tính với ma túy, do vậy hành vi của Đinh Thị Yến là hành vi vi phạm hành chính. Công an huyện Thanh Sơn đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đinh Thị Yến về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Khoản 1, Điều 23, Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ.
Đối với Lò Thị Tiên, Đinh Diệu Quỳnh và Lường Thị Lan: Ngày 02/11/2022, Lò Thị Tiên, Đinh Diệu Quỳnh và Lường Thị Lan đã có hành vi sử dụng ma túy loại “Kẹo” và Ketamine tại nhà trọ của Đặng Văn T ở Phố Hạ Sơn, thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn. Kết quả Test nhanh chất ma túy đối với Lò Thị Tiên, Đinh Diệu Quỳnh và Lường Thị Lan cho kết quả Dương tính với ma túy, do vậy hành vi của Lò Thị Tiên, Đinh Diệu Quỳnh và Lường Thị Lan là hành vi vi phạm hành chính. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi vi phạm vào ngày 02/11/2022, Lường Thị Lan chưa đủ 16 tuổi (14 tuổi 9 tháng 26 ngày); Đinh Diệu Quỳnh chưa đủ 16 tuổi (15 tuổi 3 tháng 14 ngày); Lò Thị Tiên chưa đủ 16 tuổi (15 tuổi 2 tháng 4 ngày). Căn cứ Khoản 3, Điều 134 Luật xử lý vi phạm hành chính, Công an huyện Thanh Sơn đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với hình thức Cảnh cáo đối với Lò Thị Tiên, Đinh Diệu Quỳnh và Lường Thị Lan về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Khoản 1, Điều 23, Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ.
Đối với Tòng Thị Hương: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Sơn đã nhiều lần tiến hành xác minh, triệu tập nhiều lần tuy nhiên đến nay không xác định được Hương đang ở đâu làm gì, do đó không có đủ căn cứ để chứng minh, xử lý đối với Hương trong vụ án này.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Đặng Văn T vào ngày 02/11/2022: Quá trình điều tra, T không biết rõ người bán ma túy cho mình là ai, ở đâu. Việc mua bán ma túy giữa T và đối tượng này không có ai biết. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác định và làm rõ, xử lý đối với người đã bán số ma túy nêu trên cho T như T đã khai trong vụ án này.
. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
V× c¸c lÏ trªn:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Căn cứ Khoản 2 Điều 255 - Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Các bị cáo Đặng Văn T, Hà Xuân T và Phạm Ánh Ng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
2.1. Căn cứ: Điểm b, c Khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Đặng Văn T.
Xö ph¹t Đặng Văn T 07 (bảy) năm 06 (sáu) th¸ng tï, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09/11/2022.
2.2. Căn cứ Điểm b, c Khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Hà Xuân T.
Xö ph¹t: Hà Xuân T 07 (bảy) năm tï, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09/11/2022.
2.3. Căn cứ Điểm b, c, h Khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Phạm Ánh Ng.
Xö ph¹t: Phạm Ánh Ng 07 (bảy) năm 06 (sáu) th¸ng tï, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09/11/2022.
Hình phạt bổ sung: MiÔn ¸p dông h×nh ph¹t bæ sung ®èi víi các bÞ c¸o Đặng Văn T, Hà Xuân T và Phạm Ánh Ng theo quy định tại khoản 5 Điều 255 BLHS.
3. Về vật chứng, đồ vật tạm giữ của vụ án:
Căn cứ: Khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 đĩa sứ màu trắng; 01 thẻ nhựa màu tím (Thẻ TP Bank, ghi Nguyen Duc Tuan) cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong trong 01 thùng bìa cát tong, bên ngoài có dán 02 tờ niêm phong, trên mỗi tờ niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và 02 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự.
+ 01 (một) bật lửa gas màu trắng - xanh, đã cũ;
+ Sim số điện thoại 0363.331.858 và sim số 0983.568.858 thu giữ của Đặng Văn T;
- Tịch thu bán sung công quỹ Nhà nước:
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, đã cũ thu giữ của Đặng Văn T;
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng được niêm phong trong Bì giấy số 01, bên ngoài có đóng 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong tại các mép dán.
- Trả lại cho chủ sở hữu:
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu xanh, đã cũ, bên trong gắn sim số 0971.690.618 thu giữ của Nguyễn Hồng Quân;
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, màu đen, đã cũ và sim số 0397.397.990 thu giữ của Hà Xuân T;
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu tím, đã cũ và sim số 0329.702.222 thu giữ của Phạm Ánh Ng;
+ Trả lại 4.300.000 đồng thu giữ của Phạm Ánh Ng nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
+ Trả lại 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, màu đỏ đen, mang BKS: 19T1-82.47, xe không có gương chiếu hậu, đã qua sử dụng cho Hà Xuân T.
- Xác nhận ngày 05/3/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Sơn đã trả lại tài sản chiếc xe mô tô nhãn hiệu Piagio, màu trắng (được dán đề can màu xanh), mang BKS: 19P1-048.79 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Hà Tất Thắng là phù hợp.
Vật chứng lµ ®å vËt ®· ® îc C¬ quan C¶nh s¸t ®iÒu tra bµn giao cho c¬ quan Thi hµnh ¸n d©n sù huyÖn thanh S¬n theo biªn b¶n giao, nhËn vËt chøng ngµy 15/9/2023.Vật chứng là tiền đang được t¹m gi÷ ë tµi kho¶n sè 3949.0.1054594.00000 t¹i kho b¹c huyÖn Thanh S¬n, tØnh Phó Thä.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đặng Văn T, Hà Xuân T, Phạm Ánh Ng mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại UBND xã nơi cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND huyện + tỉnh; - Cơ quan CSĐT CA huyện; - Cơ quan THAHS CA huyện; - THAHS; Chi cục THADS; - Bị cáo; - UBND xã Sơn Hùng; - UBND TT Thanh Sơn; - UBND xã Tề Lễ, huyện Tam Nông; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Trần Thị Duyên Hòa |