vanban.org

Bản án 60/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 17/10/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố : Bị cáo Bùi Thị H1 phạm tội “ Trộm cắp tài sản”

Áp dụng: Khoản 1 điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Thị H1 12 ( mười hai ) tháng tù nhưng được hưởng án treo, thời gian thử thách 24 ( Hai mươi tư ) tháng kể từ ngày tuyên án.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thị Hoa trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố : Bị cáo Bùi Thị H1 phạm tội “ Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LƯƠNG SƠN
TỈNH HÒA B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60 /2023/HS-ST
Ngày 25-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁNNHÂN DÂNHUYỆN LƯƠNG SƠN,TỈNH HÒA B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nguyệt

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phùng Chinh và bà Nguyễn Thị Mai Hoa

Thư ký phiên toà: Ông Đinh Việt Bảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lương

Sơn, tỉnh Hòa B

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn tham gia phiên toà: Bà

Nguyễn Mai Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh

Hòa B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 08 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xửsố 61/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Bùi Thị H, sinh ngày 05 tháng 11 năm 1989, tại Lương Sơn, Hòa B.

Nơi thường trú: xóm Ch, xã C, huyện L, tỉnh Hòa B; nghề nghiệp: Công nhân;

trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn M, sinh năm 1954 và bà Bùi Thị B, sinh năm 1962; có chồng là: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1973 ( Đã ly hôn ); có 02 con ( lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2013 );

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Năm 2008 bị Công an huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa B xử phạt vi phạm

hành chính về hành vi bán dâm.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/7/2023 đến ngày 11/7/2023. Hiện tại ngoại có mặt

tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Tạ Thị H, sinh năm 1991; HKTT: Xóm L, xã C, huyện L tỉnh Hòa B.

Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1995; địa chỉ: Hạnh C, xã N, huyện L, tỉnh Hòa

B, vắng mặt tại phiên tòa.

- Chị Trần Thị Th, sinh năm 1989; địa chỉ: Tiểu k, thị trấn L, huyện L, tỉnh H,

vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 40 phút, ngày 06/7/2023, tại quán tạp hóa Thu Sử thuộc tiểu

khu 12, thị trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa, Bùi Thị H, sinh năm: 1989, HKTT: Xóm Ch, xã C, huyện L, tỉnh Hòa B là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp chiếc điện thoại di động Iphone 8 Plus của chị Tạ Thị H, sinh năm: 1991, HKTT: Xóm L, xã C, huyện Lương Sơ, tỉnh Hòa B là nhân viên bán hàng của quán. Sau khi trộm cắp được tài sản, H đem chiếc điện thoại ra cửa hàng điện thoại ở thôn N, xã , huyện L, tỉnh Hòa B để mở khóa và cài đặt lại máy để sử dụng. Trị giá chiếc điện thoại di động Hoa trộm cắp qua định giá là: 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Đến ngày 07/7/2023, Bùi Thị H đến Công an huyện L, tỉnh Hòa B xin đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giao nộp lại chiếc điện thoại đã lấy trộm.

Về vật chứng: Cơ quan công an đã thu giữ 01 ( Một ) xe moto HONDA VISION

mang BKS: 28G1 – 283.28.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện đền bù cho chị Tạ Thị H số tiền

14.990.000 đồng ( Mười bốn triệu chín trăm chín mươi nghìn đồng ). Chị H đã nhận đủ số tiền này và chiếc điện thoại di động bị hoa lấy trộm. Chị Hải có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và không có yêu cầu gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với anh Nguyễn Văn Kh là người giúp bị cáo cài đặt lại máy và mở khóa

chiếc điện thoại đã lấy trộm. Anh Kh không biết đay là chiếc điện thoại do bị cáo trộm cắp mà có, do đó không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự

Tại bản cáo trạng số: 65/CT-VKSLS ngày 29 tháng 08 năm 2023 của Viện kiểm

sát nhân dân huyện Lương Sơn đã truy tố bị cáo Bùi Thị H1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn vẫn giữ nguyên

quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, tuyên phạt bị cáo từ 12 ( Mười hai ) đến 15 ( Mười lăm ) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 ( hai bốn ) đến 30 ( ba mươi ) tháng.

-Về Vật chứng: Áp dụng Điều 106 BLTTHS trả lại cho bị 01 ( Một ) xe moto

HONDA VISION mang BKS: 28G1 – 283.28.

Tại phiên tòa,bị cáo Bùi Thị H1 khai nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như cáo

trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[ 1]Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lương

Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyềnlợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Về tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn truy tố đối

với bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Bùi Thị H1 khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của của người làm chứng, vật chứng thu giữ cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa đã có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 17 giờ 40 phút, ngày 06/7/2023, tại quán tạp hóa Thu Sử thuộc tiểu k, thị trấn L, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa, Bùi Thị H1, đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp chiếc điện thoại di động Iphone 8 Plus của chị Tạ Thị H là nhân viên bán hàng. Sau khi trộm cắp được tài sản. Trị giá chiếc điện thoại di động bị cáo trộm cắp qua định giá là: 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Do đó hành vi của bị cáo Bùi Thị H1 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Trộmcắp tài sản” theo quy định khoản1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn kết luận tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

-Về tình tiết tăng nặng: Không.

-Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường

hợp ít nghiêm trọng, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải và thật thà khai báo, sau khi phạm tội đã ra đầu thú; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo Điều 65 BLHS cũng đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về trách nhiệm dân sự : Người bị hại đã nhận lại tài sản, bị cáo tự nguyện bồi

thường thêm cho bị hại. Nay bị cáo và bị hại không yêu cầu tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan công an đã thu giữ 01 ( Một ) xe moto

HONDA VISION mang BKS: 28G1 – 283.28. Quá trình điều tra xác định chiếc xe moto chỉ là phương tiện Hoa sử dụng để di chuyển trong lúc đi chợ chứ không nhằm mục đích để thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy áp dụng Điều 106 BLTTHS tuyên trả lại cho bị cáo là phù hợp đúng pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Bùi Thị H1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy

định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố : Bị cáo Bùi Thị H1 phạm tội “ Trộm cắp tài sản”

- Áp dụng: Khoản 1 điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65

Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Thị H1 12 ( mười hai ) tháng tù nhưng được hưởng án treo, thời gian thử thách 24 ( Hai mươi tư ) tháng kể từ ngày tuyên án.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 BLTTHS, trả lại bị cáo Bùi Thị H1 01 (Một )

xe moto HONDA VISION mang BKS: 28G1 – 283.28.

(Vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án huyện Lương Sơn theo Biên

bản giao nhận vật chứng ngày 07/9/2023.)

Giao các bị cáo Bùi Thị H1 cho UBND xã Cao Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình người bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí:Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số

326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội, bị cáo Bùi Thị H1 phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo : Bị cáo, người bị hại có quyền khángTrong thời hạn 15 ngày

kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ