vanban.org

Bản án 60/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 04/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Xử phạt bị cáo Dương Văn C 08 ( tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 24/5/2023. Về hình phạt bổ sung: Không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "dương văn cường - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN H
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2023/HS-ST
Ngày: 04-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẮC GIANG

-Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Sự

-Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Huệ - Thư ký Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Ông Ngô Đức Nghiêm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 61/2023/TLST- HS ngày 20 tháng 7 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

1.Họ và tên: Dương Văn C, sinh năm 1995; Tên gọi khác: Không

Nơi cư trú: bản T, xã L, huyện Y, tỉnh Sơn La.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn Giáo: Không;

Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 6/12.

Con ông: Dương Văn S, sinh năm 1974;

Con bà: Hoàng Thị B, sinh năm 1972;

Vợ: Vì Thị X, sinh năm 1995 (đã ly hôn).

Bị cáo có 01 con sinh năm 2018;

Gia đình bị cáo có 3 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Tiền án:

Bản án số 279/2020/HS-ST ngày 24/12/2020 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xử phạt 14 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, (chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/10/2021, chấp hành xong án phí ngày 10/5/2021).

Tiền sự, nhân thân: không.

Bị can bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/5/2023 đến nay. Hiện

đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H.

(Có mặt tại phiên tòa)

2.2. Người bị hại.

Ông Phùng Văn A, sinh năm 1975

( vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ dân phố số 1, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang

2.3.Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1968

( vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn C, xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 24/5/2023, Dương Văn C, sinh năm 1995, trú tại: bản T, xã L, huyện Y, tỉnh Sơn La đi đến khu vực đầu đường Tuệ Tĩnh thuộc địa phận tổ dân phố số 1, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang thì phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM, loại xe STAR, màu xanh, biển kiểm soát 98L4-3459 của anh Phùng Văn A, sinh năm 1975 ở tổ dân phố số 1, thịtrấn T, huyện H đang dựng ở rìa đường, trên xe có 01 giá chở hàng bằng kim loại, chìa khóa vẫn cắmở ổ khóa điện; Cường quan sát thấy không có ai trông coinên đã nảy sinh ý định trộmcắp. Cường tiến lại gần ngồi lên xe, mở khóa điện và khởi động xe nhưng không nổ được máy nên Cường xuống xe, dắt chiếc xe đi được khoảng 10mthì bịCông an thị trấn T phát hiện, bắt quả tang. Ngày 29/5/2023, hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hiêp Hòa kết luận:

Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98L4-3459 trị giá 2.500.000 đồng, chiếc giá chở hàng bằng kim loại trị giá 136.000 đồng. Tổng trịgiá tài sản Cường trộmcắp là 2.636.000 đồng (hai triệu sáu trămba mươi sáu nghìn đồng).

Quá trình điều tra, truy tố bị cáo Dương Văn C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.

*Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 02/QĐ-VKS-HH ngày 18/7/2023, của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Dương Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Dương Văn C thành khẩn khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Dương Văn C và đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 - Bộ luật hình sự;

- Xử phạt bị cáo Dương Văn C từ 7 tháng tù đến 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 24/5/2023.

*Về xử lý vật chứng: Ngày 29/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Phùng Văn A chiếc xe mô tô BKS: 98L4 -3459 và chiếc giá chở hàng bị trộm cắp. Anh Phùng Văn A đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì về dân sự.

-Về trách nhiệm dân sự: Không có

-Về hình phạt bổ sung: Không có

Về án phí: Bị cáo được phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

Ngoài ra quyền kháng cáo đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bị hại đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, tại giai đoạn điều tra và truy tố đã có lời khai nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do vậy, quyết định xét xử vắng mặt những người trên là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo Dương Văn C tại phiên tòa hôm nay phù hợp với diễn biến hành vi phạm tội, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 24/5/2023, tại khu vực đầu đường Tuệ Tĩnh thuộc địa phận tổ dân phố số 1, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang, bị cáo Dương Văn C có hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98L4-3459 trị giá 2.500.000 đồng, chiếc giá chở hàng bằng kim loại trị giá 136.000 đồng. Tổng trịgiá tài sản Cường trộmcắp là 2.636.000 đồng (hai triệu sáu trăm ba mươisáu nghìn đồng).

Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Dương Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173- Bộ luật hình sự; Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Dương Văn C theo tội danh và điều khoản trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét về vai trò và tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo Dương Văn C đã có hành vi lén lút để thực hiện việc chiếm đoạt tài sản. Bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Do đó, với hành vi như trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Như vậy, Quyết định của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Dương Văn C theo tội danh và điều khoản trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo Dương Văn C đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải, nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51- Bộ luật hình sự đối với bị cáo nên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

-Về nhân thân: Bị cáo Dương Văn C có nhân thân xấu

-Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Dương Văn C phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 – Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Không có

Về trách nhiệm dân sự: Không có

Về vật chứng của vụ án: Ngày 29/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Phùng Văn A chiếc xe mô tô BKS: 98L4 -3459 và chiếc giá chở hàng bị trộm cắp. Anh Phùng Văn A đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì về dân sự, nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí:

Bị cáo Dương Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và quy định tại Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016;

Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan có quyền kháng cáo theo Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 38 - Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Dương Văn C 08 ( tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 24/5/2023.

2.Về hình phạt bổ sung: Không có.

3. Về vật chứng của vụ án: Không có

4.Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự;khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

Buộc bị cáo Dương Văn C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5.Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.

6.Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ