vanban.org

Bản án 60/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Phú Thọ Tuyên án 02/08/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phùng Thị K được ly hôn với anh Hoàng Duy L.

[2] Về con chung: Giao 02 cháu Hoàng Thị Thanh T1, sinh ngày 30/01/2016 và cháu Hoàng Thị Thanh T2, sinh ngày 11/06/2017 cho anh Hoàng Duy L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung thành niên. Tạm giao hai cháu cho bà Nguyễn Thị P chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh L ở n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Phùng Thị K xin ly hôn với anh Hoàng Duy"
  • Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phùng Thị K được ly hôn với anh Hoàng Duy L.
  • Căn cứ chính? Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2023/HNGĐ-ST
Ngày 02 tháng 8 năm 2023
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Phẩm

Bà Bùi Thị Hảo

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Quân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Hồng Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 57/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2023 và quyết định hoãn giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phùng Thị K, sinh năm 1994;

HKTT: Xóm DB, xã V, huyện TS, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Anh Hoàng Duy L, sinh năm 1988;

HKTT: Khu 5, xã YL, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Hiện đang ở nước ngoài, không rõ địa chỉ.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1960;

HKTT: Khu 5, xã YL, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

(Chị K, bà P có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh L vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10/3/2023, bản tự khai ngày 28/4/2023chị Phùng Thị K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Thị K và anh Hoàng Duy L đăng ký kết hôn ngày 19/5/2015 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện TS, tỉnh Phú Thọ trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, chị K thường xuyên bị anh L đánh đập. Chị Phùng Thị K nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Hoàng Duy L.

Về con chung: Vợ chồng anh chị có 02 con chung là cháu Hoàng Thị Thanh T1, sinh ngày 30/01/2016 và cháu Hoàng Thị Thanh T2, sinh ngày 11/06/2017. Hiện hai cháu đang ở với bà nội là bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1960 tại khu 5, xã YL, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Khi ly hôn, chị K đề nghị giao hai cháu cho anh L nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Trong thời gian anh L ở nước ngoài, chị đề nghị tạm giao hai cháu cho bà nội chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh L về nước.

Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Chị Phùng Thị K trình bày không có tài sản chung, công nợ, công sức chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 28/4/2023 của cháu Hoàng Thị Thanh T1, cháu có nguyện vọng xin được ở với bố khi bố mẹ ly hôn. Trong thời gian bố cháu ở nước ngoài, cháu xin được ở với bà nội.

Chị K trình bày hiện nay chị không biết địa chỉ của anh L ở nước ngoài nên chị không thể cung cấp địa chỉ nên chị đề nghị Tòa án xác minh địa chỉ của anh L tại nước ngoài thông qua mẹ đẻ của anh L là bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1960, trú tại khu 5, xã YL, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Bà Nguyễn Thị P trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh L. Anh L hiện đang ở làm việc và sinh sống tại Đài Loan. Ngày nào anh L cũng gọi điện về để hỏi thăm sức khỏe của bà và các con nhưng không nói rõ cụ thể ở đâu nên bà không thể cung cấp địa chỉ của anh L tại nước ngoài cho Tòa án được. Anh L đã biết việc chị K xin ly hôn với anh L, anh L nhất trí nhưng không thể về nước giải quyết được. Việc chị K đề nghị giao hai cháu cho anh L nuôi và tạm giao cho bà trong thời gian anh L ở nước ngoài, bà nhất trí và cam kết đảm bảo điều kiện tốt nhất cho các cháu về vật chất và tinh thần., bà không đề nghị chị K có nghĩa vụ cấp dưỡng trong thời gian bà trực tiếp nuôi dưỡng các cháu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, việc thu thập chứng cứ của Tòa án là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị xử cho chị Phùng Thị K được ly hôn với anh Hoàng Duy L.

Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Hoàng Thị Thanh T1, sinh ngày 30/01/2016 và cháu Hoàng Thị Thanh T2, sinh ngày 11/06/2017 cho anh Hoàng Duy L chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi hai cháu thành niên. Tạm giao hai cháu cho bà Nguyễn Thị P, mẹ đẻ của anh L, chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu cho đến khi anh L về nước. Chị K không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh L.

Chị K có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Chị Phùng Thị K phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Nguyên đơn là chị Phùng Thị K gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xin ly hôn với anh Hoàng Duy L, sinh năm 1988, địa chỉ tại: Khu 5, xã YL, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Phùng Thị K trình bày hiện anh L đang sống và làm việc tại Đài Loan, nhưng chị không biết địa chỉ. Tại văn bản số 5701/QLXNC-P5 ngày 21/3/2023 của Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an xác nhận anh Hoàng Duy L đã xuất cảnh ngày 17/3/2019 và chưa nhập cảnh trở lại Việt Nam. Căn cứ khoản 3 Điều 35, Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Phùng Thị K và anh Hoàng Duy L đăng ký kết hôn ngày 19/5/2015 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện TS, tỉnh Phú Thọ trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Chị Phùng Thị K nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Hoàng Duy L. Theo trình bày của bà P là mẹ đẻ của anh L, bà đã thông tin cho anh L về việc chị K xin ly hôn, anh L cũng đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa chị Phùng Thị K và anh Hoàng Duy L đã trầm trọng, đời sống chung trên thực tế không tồn tại, tình cảm vợ chồng không còn. Do đó, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Thị K về việc xin ly hôn anh Hoàng Duy L.

Về con chung: Chị Phùng Thị K và anh Hoàng Duy L xác định anh chị có 02 con chung là cháu Hoàng Thị Thanh T1, sinh ngày 30/01/2016 và cháu Hoàng Thị Thanh T2, sinh ngày 11/06/2017. Hiện hai cháu đang ở với bà nội là bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1960 tại khu 5, xã YL, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Khi ly hôn, chị K đề nghị giao hai cháu cho anh L nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Trong thời gian anh L ở nước ngoài, chị đề nghị tạm giao hai cháu cho bà nội chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi anh L về nước. Bà Nguyễn Thị P nhất trí nhận nuôi hai cháu trong thời gian anh L ở nước ngoài, và không yêu cầu chị K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai cháu cho bà. Do anh L không có ở Việt Nam để thể hiện quan điểm có đề nghị chị K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh không nên Tòa án không xem xét. Anh L có quyền khởi kiện riêng vụ án đề nghị cấp dưỡng nuôi con chung nếu có yêu cầu.

Xét đề nghị của chị K và bà P là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung, công nợ chung, công sức chung: Chị K xác nhận không có nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết cần được xác nhận.

Về án phí: Chị Phùng Thị K phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 39 Bộ luật Dân sự; Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phùng Thị K được ly hôn với anh Hoàng Duy L.

[2] Về con chung: Giao 02 cháu Hoàng Thị Thanh T1, sinh ngày 30/01/2016 và cháu Hoàng Thị Thanh T2, sinh ngày 11/06/2017 cho anh Hoàng Duy L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung thành niên. Tạm giao hai cháu cho bà Nguyễn Thị P chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh L ở nước ngoài.

Về cấp dưỡng nuôi con: Xác nhận bà P không yêu cầu chị K phải cấp dưỡng tiền nuôi cháu Hoàng Thị Thanh T1, và cháu Hoàng Thị Thanh T2 trong thời gian bà P nuôi dưỡng. Anh L có quyền khởi kiện riêng vụ án đề nghị cấp dưỡng nuôi con chung nếu có yêu cầu. Chị K có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

[3] Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Tòa án không xem xét giải quyết.

[4] Về án phí: Chị Phùng Thị K phải chịu 300.000đ (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị K đã nộp 300.000đ (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0000462 ngày 03/4/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.

Nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để đề nghị xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ