- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "“Ly hôn, tranh chấp con chung khi ly hôn”"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho bà Đặng Thị Thùy Tr1 được ly hôn với ông Võ Thái M2.
- Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2023/HNGĐ-ST Ngày 03/7/2023 V/v: “Ly hôn, tranh chấp con chung khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngọ Văn Tỉnh.
Các Hội thẩm nhân nhân: 1. Bà Đoàn Thị Mến
2. Ông Đào Danh Tuất
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phùng Thị Trang – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Trần Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2023/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp con chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2023; quyết định hoãn phiên tòa số 30/2023/QĐST – HNGĐ ngày 05/6/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Thùy Tr1, sinh năm: 1997 (có mặt)
Địa chỉ: Tổ 3, ấp Bình Minh, xã Bình Châu, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
2. Bị đơn: Ông Võ Thái M2, sinh năm: 1996 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 3, ấp Bình Tiến, xã Bình Châu, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 30/12/2022 và các biên bản làm việc tiếp theo tại Tòa án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Đặng Thị Thùy Tr1 trình bày như sau:
Bà Đặng Thị Thùy Tr1 và ông Võ Thái M2 quen biết và tìm hiểu nhau, sau một thời gian tìm hiểu đã tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại UBND xã Bình Châu vào năm 2018 và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 2018. Việc chung sống với nhau và đăng ký kết hôn là tự nguyện, không ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xã Bình Châu, từ khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến giữa năm 2022 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và kéo dài cho đến ngày hôm nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, giữa hai vợ chồng không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã nhau, ngoài ra trong cuộc sống ông Mai không quan tâm đến bà Trinh và gia đình và còn lâm vào tệ nạn xã hội, cách ngày xét xử khoảng 2 tuần đã bị đưa đi cai Ngh3ện bắt buộc. Khi mâu thuẫn xảy ra vợ chồng sống không hạnh phúc nhưng vì thương con nên bà Trinh chịu đựng hy vọng ông Mai sẽ thay đổi nhưng không có kết quả.
Từ cuối năm 2022 đến nay khi mâu thuẫn trầm trọng xảy ra bà Trinh đã nhiều lần nói chuyện với ông Mai khuyên can để giải quyết mâu thuẫn giúp vợ chồng đoàn tụ để xây dựng gia đình hạnh phúc nhưng không có kết quả, hiện nay vợ chồng đã ly thân nhau vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, gia đình đã khuyên can góp ý để vợ chồng hóa giải mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà Trinh yêu cầu ly hôn với ông Võ Thái M2 để có điều kiện xây dựng cuộc sống mới.
Về con chung: bà Đặng Thị Thùy Tr1 và ông Võ Thái M2 có 01 con chung là Võ Đặng Đồng Ngh3, sinh ngày 20/3/2019 hiện đang ở cùng với bà Trinh, bà Trinh yêu cầu được tiếp tục là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ngh3 không yêu cầu ông Mai cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với ông Võ Thái M2, Tòa án đã tiến hành các thủ tục Thông báo thụ lý vụ án, các thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Phát biểu quan điểm của kiểm sát viên: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, là đúng trình tự, thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự, bị đơn vắng mặt hai phiên tòa là chưa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự.
Về nội dung: Qua xem xét nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu ly hôn và giải quyết việc nuôi chung với bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi xem xét các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng, thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp:
Trong quá trình tham gia tố tụng, ông Võ Thái M2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng ông Mai vắng mặt tại phiên tòa, vì vậy xét xử vắng mặt ông Mai là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Qua xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên là “Ly hôn, tranh chấp con chung khi ly hôn” giữa bà Đặng Thị Thùy Tr1 với ông Võ Thái M2 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Xuyên Mộc quy định tại Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà bà Đặng Thị Thùy Tr1 với ông Võ Thái M2 bắt đầu từ năm 2018, có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã Bình Châu, huyện Xuyên Mộc nên quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi đăng ký kết hôn, hai người chung sống hạnh phúc với nhau đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Do ông Mai vắng mặt tại phiên tòa và không có lời khai để trình bày ý kiến của mình về mâu thuẫn trong hôn nhân nên Tòa án căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết.
Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn bà Trinh cho rằng cuộc sống chung vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình hai người không hợp nhau, nên hay xảy ra xung đột và cải vã lẫn nhau, ngoài ra còn nguyên nhân về ông Mai lâm vào tệ nạn xã hội, Ngh3ện ma túy khiến cho vợ chồng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Xét yêu cầu của bà Trinh cho thấy sau khi mâu thuẫn xảy ra, lẽ ra ông Mai và bà Trinh phải cùng tìm nguyên nhân để hàn gắn vợ chồng và xây dựng gia đình nhưng mâu thuẫn kéo dài từ năm 2022 đến nay mạnh ai nấy sống từ khi mâu thuẫn xảy ra vợ chồng không quan tâm chăm sóc lẫn nhau ông Mai sống tại nhà riêng của vợ chồng còn bà Trinh đã về nhà cha mẹ đẻ sinh sống, gia đình hai bên cũng đã tác động để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Sau khi bà Trinh gửi đơn đến Tòa án đã tiến hành nhiều phiên hòa giải để đoàn tụ vợ chồng nhưng không có kết quả vì lý do bà Trinh kiên quyết ly hôn để xây dựng cuộc sống mới, còn ông Mai vắng mặt.
Từ những nhận định nêu trên Hội đồng xét xử nhận thấy, tình cảm vợ chồng của ông Mai và bà Trinh thực sự không còn tình trạng hôn nhân nhân trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài vì trong giai đoạn này là sự quyết liệt ly hôn của bà Trinh và sự phó mặc của ông Mai cho chính quan hệ hôn nhân đang rạn nứt của mình thì cơ hội đoàn tụ vợ chồng là không có. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trinh.
. Về con chung: Bà Trinh và ông Mai có 01 con chung là Võ Đặng Đồng Ngh3, sinh ngày 20/3/2019 hiện đang ở cùng với bà Trinh, bà Trinh yêu cầu được tiếp tục là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ngh3 không yêu cầu ông Mai cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu của bà Trinh cho thấy, từ khi ly thân đến nay cháu Ngh3 vẫn sống cùng bà Trinh hiện nay đanh được bà Trinh và gia đình bên ngoại chăm sóc tốt, ông Mai không đến Tòa án để trình bày về việc nuôi dưỡng con chung, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định của pháp luật cũng như điều kiện tốt nhất cho các cháu trên thực tế cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho bà Trinh trực tiếp nuôi dưỡng con chung là phù hợp, ông Mai không phải cấp dưỡng nuôi con.
. Về tài sản chung và nợ chung: bà Trinh không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
. Về án phí: Áp dụng Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 bà Trinh phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân & gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 28, 35 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56 , 81, 82, 83, 84, 107 Luật Hôn nhân & Gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016. Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho bà Đặng Thị Thùy Tr1 được ly hôn với ông Võ Thái M2.
2. Về con chung: Bà Đặng Thị Thùy Tr1 và ông Võ Thái M2 có có 01 con chung là cháu Võ Đặng Đồng Ngh3, sinh ngày 20/3/2019 hiện đang ở cùng với bà Trinh.
Bà Đặng Thị Thùy Tr1 được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Võ Đặng Đồng Ngh3, sinh ngày 20/3/2019, ông Võ Thái M2 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên; người không trực tiếp nuôi dưỡng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc chăm nom, chăm sóc, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của cha hoặc mẹ hoặc của cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Khi có lý do chính đáng, có thể yêu cầu cấp dưỡng và mức cấp dưỡng có thể thay đổi.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
4. Về án phí: Bà Đặng Thị Thùy Tr1 phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân & Gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí Hôn nhân & Gia đình bà Trinh đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0011589 ngày 05/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc. Như vậy bà Trinh đã nộp đủ án phí Hôn nhân & Gia đình sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn 15 ngày được tính từ ngày nhận hoặc được niêm yết bản án.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
| THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |