- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ban an K-L"
- Tòa quyết gì? Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2023/HNGĐ-ST Ngày: 25-8-2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Thoảng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Hoài Sơn
2. Ông Phạm Thanh Châu Giang
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn – Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Ông Đinh Phú Ngọc – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 193/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2023 về việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1975 Địa chỉ: Tổ dân phố số 11, thị trấn M, huyện V, tỉnh Yên Bái (có mặt).
2. Bị đơn: Chị Vũ Thị L, sinh năm 1982 Địa chỉ: Tổ dân phố số 11, thị trấn M, huyện V, tỉnh Yên Bái (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Ngọc K trình bầy: Tôi và chị Vũ Thị L kết hôn với nhau là hoàn toàn tự nguyện. Đăng ký ngày 14/4/2009 tại UBND phường K, thành phố L, tỉnh Lao Cai. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 7/2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tôi và chị L tính tình không hợp, quan điểm sống của hai vợ chồng bất đồng. Từ đó dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng xảy ra. Vợ chồng sống ly thân nhau từ tháng 9/2020 cho đến nay không ai quan tâm đến ai cả. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn gì nữa. Không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa. Đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn chị L.
Về con chung: Có 02 cháu: Nguyễn Ngọc K sinh ngày 16/3/2005; Nguyễn Ngọc Kh sinh ngày 30/6/2014. Cháu K đã trưởng thành tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn cháu Kh hiện nay đang ở cùng tôi. Khi ly hôn tôi nhận nuôi cháu Kh và không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con. Công việc của tôi làm thợ hàn thu nhập một tháng bình quân 8.000.000đồng đủ để nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai bị đơn chị Vũ Thị L trình bầy: Tôi và anh Nguyễn Ngọc K kết hôn với nhau là hoàn toàn tự nguyện. Đăng ký ngày 14 tháng 4 năm 2009 tại Ủy ban nhân dân phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 7/2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tôi và anh K tính tình không hợp, quan điểm sống của hai vợ chồng bất đồng. Từ đó dẫn đến mâu thuẫn của hai vợ chồng xảy ra. Vợ chồng sống ly thân nhau từ tháng 9/2020 cho đến nay không ai quan tâm đến ai cả. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn gì nữa. Không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa. Anh K xin ly hôn. Tôi đồng ý ly hôn.
Về con chung: Có 02 cháu: Nguyễn Ngọc K sinh ngày 16/3/2005; Nguyễn Ngọc Kh sinh ngày 30/6/2014. Cháu K đã trưởng thành tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn cháu Kh hiện nay đang ở cùng anh K. Khi ly hôn anh K nhận nuôi cháu Kh và không yêu cầu tôi cấp dưỡng nuôi con. Tôi đồng ý.
Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng dân sự, quyền và nghĩa vụ của các đương sự được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho anh Nguyễn Ngọc K được ly hôn chị Vũ Thị L.
Về con chung: Căn cứ Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình xử giao cháu Nguyễn Ngọc Kh sinh ngày 30/6/2014 cho anh K nuôi dưỡng, chị L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Anh Nguyễn Ngọc K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp về Hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện của Tòa án là đúng thẩm quyền được quy định tại điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định tại khoản 1 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tư cách người tham gia tố tụng: Tòa án đã xác định đúng tư cách của người tham gia tố tụng gồm nguyên đơn, bị đơn trong vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Ngọc K và chị Vũ Thị L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân phường K, thành phố L, tỉnh Lao Cai vào ngày 14 tháng 4 năm 2009 là hôn nhân hợp pháp. Anh K và chị L đều cho rằng sau khi kết hôn vợ chồng sống với nhau hạnh phúc đến tháng 7/2020 sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn cả hai anh chị đều cho là do tính tình không hợp, quan điểm sống của hai vợ chồng bất đồng. Từ đó dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng xảy ra. Vợ chồng sống ly thân nhau từ tháng 9/2020 cho đến nay không ai quan tâm đến ai cả. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn. Anh K xin ly hôn. Chị L đồng ý ly hôn.
Tại điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”.
Căn cứ vào lời trình bầy của các đương sự và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Đã xác định mâu thuẫn vợ chồng xảy ra dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Anh K xin ly hôn. Chị L đồng ý ly hôn. Từ đó có căn cứ cho rằng tình trạng hôn nhân giữa anh K và chị L đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần áp dụng điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 để xử cho anh K được ly hôn chị L là có căn cứ.
Về con chung: Có 02 cháu: Nguyễn Ngọc K sinh ngày 16/3/2005; Nguyễn Ngọc Kh sinh ngày 30/6/2014. Cháu K đã trưởng thành anh K và chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi ly hôn anh K nhận nuôi cháu Kh và không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con. Chị L đồng ý. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho cháu Kh được ổn định, đầy đủ và không làm thay đổi cuộc sống của cháu và theo nguyện của của cháu. Do vậy cần giao cháu Kh cho anh K nuôi dưỡng, chị L không phải cấp dưỡng nuôi con. Nguyện vọng nuôi con chung của anh K không trái với quy định tại điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân gia đình. Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Anh Nguyễn Ngọc K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Phần đề nghị tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Ngọc K được ly hôn chị Vũ Thị L.
2. Về con chung: Xử giao cháu Nguyễn Ngọc Kh sinh ngày 30/6/2014 cho anh Nguyễn Ngọc K trực tiếp chăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Kh đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật. Chị Vũ Thị L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm con không ai được ngăn cản.
3. Về án phí: Anh Nguyễn Ngọc K phải chịu 300.000đồng tiền án dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: AA/2022/0001777 ngày 20 tháng 7 năm 2023 tại Thi hành án dân sự huyện Văn Yên. Xác nhận anh K đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Ngọc K được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Vũ Thị L vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái; - VKSND huyện Văn Yên; - Chi cục THADS huyện Văn Yên; - Các đương sự (2) - UBND phường K, TP L, tỉnh Lào Cai. - Lưu HS (2)-TQĐ(2). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Thoảng |