- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thu D yêu cầu ly hôn với Nguyễn Văn Đ"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu D về việc "Ly hôn" với ông Nguyễn Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2023/HNGĐ-ST Ngày: 26-7-2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA - TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Quân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trịnh Thế Phương Nam.
2. Ông Võ Đức Huy.
Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hằng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
Ngày 26 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 115/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 48/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu D – sinh năm 1994.
Địa chỉ: Ấp 1, xã LT, huyện TT, tỉnh Long An.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ – sinh năm 1992.
Địa chỉ: Ấp 2, xã LT, huyện TT, tỉnh Long An.
(Các đương sự vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 18/4/2023, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu D trình bày:
Do quen biết nên bà D và ông Đ đi đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới đến ngày 03/7/2013 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LT. Sau khi cưới thì vợ chồng bà sống chung với gia đình ông Đ, đến tháng 12 năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Đ không lo làm ăn, vợ chồng cãi vã, không ai quan tâm đến nhau, ông Đ lạnh nhạt với vợ con. Từ tháng 12/2022 thì bà D cùng con chung là Nguyễn Thị Ngọc Tr về nhà cha mẹ ruột ở ấp 1, xã LT sống cho đến nay. Quá trình chung sống bà và ông Đ có 01 người con chung là Nguyễn Thị Ngọc Tr, sinh ngày 20/12/2013.
Nay bà D nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng với ông Đ, hôn nhân không hạnh phúc, cuộc sống chung không thể kéo dài nên bà xin được ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ.
Về con chung: Nguyễn Thị Ngọc Tr, sinh ngày 20/12/2013 hiện đang sống với bà D ổn định, khi ly hôn bà D yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thị Ngọc Tr, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng, do bà D có đi làm công ty có thu nhập ổn định đủ chi phí để trang trải nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ không có lời trình bày.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án không tiến hành hòa giải được vì ông Nguyễn Văn Đ vắng mặt nên Tòa án quyết định đưa ra vụ án xét xử.
Chứng cứ mà bà Nguyễn Thị Thu D cung cấp trong vụ án là: Bản chính giấy chứng nhận kết hôn; Bản sao giấy khai sinh của con chung; Bản sao căn cước công dân, sổ hộ khẩu của bà D; Xác nhận thông tin về nơi cư trú.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Bà Nguyễn Thị Thu D khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ. Ông Đ cư trú tại Ấp 2, xã LT, huyện TT, tỉnh Long An. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Thu D vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại đơn xin xác nhận nơi cư trú của Công an xã LT xác nhận ông Nguyễn Văn Đ có đăng ký thường trú và hiện đang sinh sống tại Ấp 2, xã LT, huyện TT, tỉnh Long An. Do đó, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của ông Đ, ông Đ đã được thông báo về việc Tòa án thụ lý vụ án, về phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, về thời gian xét xử sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại các Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà D và ông Đ.
Xét yêu cầu ly hôn của bà D, thấy rằng: Bà D và ông Đ xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2013, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã LT, huyện Thủ Thừa cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 03/7/2013 nên hôn nhân của bà D và ông Đ là hôn nhân hợp pháp. Theo bà D nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Đ không lo làm ăn, vợ chồng có xảy ra cãi vã, không ai quan tâm đến nhau, ông Đ lạnh nhạt với vợ con. Từ tháng 12/2022 thì bà D cùng con gái Nguyễn Thị Ngọc Tr về nhà cha mẹ ruột ở ấp 1, xã LT sống cho đến nay. Từ đó đến nay bà D và ông Đ có gặp nhau nhưng không có tiếng nói chung, bà cũng không có ý muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình. Nay xét thấy tình cảm không còn nên bà D yêu cầu được ly hôn với ông Đ. Về phía ông Đ, từ khi bà D nộp đơn khởi kiện đến nay mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, biết rõ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà D nhưng ông Đ cũng không có ý kiến gì, liên tiếp vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án cho thấy ông Đ không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng và gìn giữ cuộc hôn nhân này. Căn cứ vào nguyên nhân mâu thuẫn mà bà D đã trình bày chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà D và ông Đ đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà D là phù hợp.
Về con chung: Bà D và ông Đ có 01 con chung tên Nguyễn Thị Ngọc Tr, sinh ngày 20/12/2013 hiện đang sống với bà D. Sau khi ly hôn bà D yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Xét thấy, hiện cháu Trâm đang sống với bà D, cuộc sống đã ổn định, cháu vẫn phát triển bình thường, bà Diễm có khả năng chăm sóc con chung tốt. Ông Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng thể hiện yêu cầu nuôi con của bà D nhưng không có ý kiến phản hồi gì. Do đó căn cứ vào khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, giao cháu Trâm cho bà D được tiếp tục nuôi dưỡng.
Về phần cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận bà D không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con do đó ông Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà D, ông Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu D về việc "Ly hôn" với ông Nguyễn Văn Đ.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Thu D được ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ.
2. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Thu D tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Thị Ngọc Tr, sinh ngày 20/12/2013.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bên không nuôi con vẫn có quyền và nghĩa vụ tới lui thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản, vì lợi ích của con chung khi có yêu cầu một hoặc hai bên đương sự Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi dưỡng hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị Thu D chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003898 ngày 05/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, bà Nguyễn Thị Thu D đã nộp đủ án phí.
Án xử sơ thẩm công khai, bà Nguyễn Thị Thu D và ông Nguyễn Văn Đ vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Thủ Thừa; - CCTHADS huyện Thủ Thừa; - UBND xã LT; - Các đương sự; - Lưu HS; - Lưu án văn. TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN THỦ THỪA TỈNH LONG AN BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi giờ phút, ngày 27 tháng 12 năm 2022 Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Quân. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Mạnh Quyết. Ông Nguyễn Hồng Phong. HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2022 về việc “ly hôn” giữa: 1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu D, sinh năm 2001. Bến Tre. 2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp Bà Mía, xã LT, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. tụng tại phiên tòa. 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. "Ly hôn" với ông Nguyễn Văn Đ. Nguyễn Văn Đ. chung tên Nguyễn Thị Ngọc Tr, sinh ngày 20/12/2013. con. giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản, vì lợi ích của con chung khi có yêu cầu một hoặc hai bên đương sự Toà án có thể quyết định thay đổi việc nuôi dưỡng hoặc mức cấp dưỡng nuôi con. để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002670 ngày 14/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, bà Nguyễn Thị Thu D đã nộp đủ án phí. vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Hội đồng xét xử sơ thẩm sau khi nghị án thống nhất biểu quyết 3/3. Nghị án kết thúc lúc giờ phút, ngày 27 tháng 12 năm 2022. cùng nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Bùi Mạnh Quyết Nguyễn Hồng Phong | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Nguyễn Đức Quân Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc Tiến hành nghị án vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 282/2022/TLST- Hộ khẩu thường trú: Ấp Bà Mía, xã LT, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Chỗ ở hiện nay: 179 ấp Phú Ninh, xã Phú Đức, huyện Châu Thành, tỉnh Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu D về việc 1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Thu D được ly hôn với ông 2. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị Thu D tiếp tục nuôi dưỡng con Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyễn Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi Bên không nuôi con vẫn có quyền và nghĩa vụ tới lui thăm nom, chăm sóc, Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom 3. Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị Thu D chịu 300.000 đồng án phí hôn Án xử sơ thẩm công khai, bà Nguyễn Thị Thu D và ông Nguyễn Văn Đ Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Quân |