- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồ Tấn B - Nguyễn Huệ L"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 243, 266, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 09, 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngy 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 09 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2023/HNGĐ-ST Ngày 30 - 5 - 2023 “Về việc ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Tính
Các vị Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đào Văn Tươi
2. Ông Hà Bảo Hiền
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Lợi - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Cà Mau.
Trong ngày 30 tháng 5 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện N xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 55/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2023. Về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2023; Quyết định hoản phiên tòa số: 75/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Hồ Tấn B, sinh năm 1975 (Có mặt)
Địa chỉ: Khóm 8, thị trấn Rạch Gốc, huyện N, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Huệ L, sinh năm 1973 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khóm 8, thị trấn Rạch Gốc, huyện N, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 20/02/2023 và các lời khai của nguyên đơn anh Hồ Tấn B trình bày:
Về hôn nhân: Tôi và chị L có tổ chức làm đám cưới và có đăng ký kết hôn ngày 29/12/2012 tại Ủy ban nhân dân xã Đất Mũi, huyện N, tỉnh Cà Mau. Hôn nhân giữa tôi và chị L là hôn nhân tự nguyện. Quá trình chung sống với nhau vợ chồng không hòa hợp, không có tiếng nói chung, làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng lệch lạc, mặc dù giữa tôi và vợ tôi củng tìm đủ cách để hòa hợp với nhau để cuộc sống hạnh phúc, nhưng vẫn không có hiệu quả. Cuộc sống giữa vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên tôi yêu cầu Tòa án nhân dân huyện N giải quyết cho tôi được ly hôn với chị Nguyễn Huệ L.
Về con chung: Vợ chồng chung sống có 02 người con tên:
1. Hồ Ngọc Mỹ, sinh năm 2005
2. Hồ Tấn Trọng, sinh năm 2008
Hiện nay các con đang sống chung với anh B, sau khi ly hôn anh B yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng tôi tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ thu và nợ trả: Vợ chồng tôi tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với chị Nguyễn Huệ L, sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã thông báo cho chị L biết về nội dung yêu cầu tại đơn khởi kiện ngày 20/02/2023 nhưng chị L không có ý kiến gì. Tòa án triệu tập hợp lệ chị L để tham gia phiên hòa giải đến lần thứ hai nhưng chị L không đến và cũng không có văn bản gì gửi đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của anh B. Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng chị L vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt chị L theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: Xét thấy bị đơn chị Nguyễn Huệ L có nơi cư trú trên địa bàn huyện N, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N theo quy định tại Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật: Xét đơn của anh Hồ Tấn B khởi kiện xin ly hôn với chị Nguyễn Huệ L nên xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn” là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Anh B và chị L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đất Mũi, huyện N, tỉnh Cà Mau nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Đối với chị L, Tòa án đã triệu tập xét xử đến lần thứ hai nhưng chị L vắng mặt không lý do, đồng thời chị L cũng không có văn bản về ý kiến của mình gửi đến Tòa án chứng tỏ chị L đồng ý với yêu cầu của anh B. Hội đồng xét xử xét thấy, anh B và chị L đã ly thân từ năm 2022 đến nay thời gian dài nhưng chị L không tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng để được đoàn tụ, chứng tỏ mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh B được ly hôn với chị L là phù hợp.
Về con chung: Anh B trình bày vợ chồng chung sống có 02 con chung tên Hồ Ngọc Mỹ, sinh năm 2005 và Hồ Tấn Trọng, sinh năm 2008 hiện đang sống chung với anh B. Sau khi ly hôn anh B yêu cầu tiếp tục nuôi con, không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con.
Theo lời trình bày và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thấy rằng điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và đảm bảo cuộc sống cho các cháu Mỹ và Trọng thì anh B có đủ điều kiện. Xét thấy, các cháu Mỹ và Trọng đã sống chung với anh B từ nhỏ, ổn định cuộc sống, tinh thần đồng thời phù hợp với đơn trình bày của các cháu Mỹ và Trọng ngày 08/3/2023 có nguyện vọng muốn được ở với anh B. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục giao con cho anh B nuôi dưỡng là phù hợp. Đối với chị L là mẹ của các cháu Mỹ và Trọng vẫn có quyền được thăm nom con mà không ai được phép ngăn cản.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh B và chị L không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung: Anh B trình bày vợ chồng không có tài sản chung, chị L không ý kiến gì nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về tài sản thì anh B và chị L có quyền khởi kiện thành vụ kiện chia tài sản sau ly hôn.
Về nợ chung: Anh B trình bày vợ chồng không có nợ chung, chị L không ý kiến gì nên không xem xét.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh B phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 243, 266, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 09, 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngy 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận cho anh Hồ Tấn B được ly hôn với chị Nguyễn Huệ L.
- Về con chung: Giao cho anh Hồ Tấn B được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu Hồ Ngọc Mỹ, sinh năm 2005 và Hồ Tấn Trọng, sinh năm 2008. Chị L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị Nguyễn Huệ L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh B phải chịu án phí số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), anh B có dự nộp tạm ứng án phí số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0020330 ngày 22/02/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N được chuyển thu.
Trong trường hợp Bản án (Quyết định) được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai, anh B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc niêm yết công khai bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện N; - THADS huyện N; - Các Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Minh Tính |