- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị Diễm M với anh Nguyễn Trọng T.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H TỈNH T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2023/HNGĐ-ST Ngày: 11-8-2023. V/v: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H, TỈNH T
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Ly
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Quang Truyền;
2. Ông Trần Văn Thạch.
- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Ngọc Lan – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh T.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T tham gia phiên tòa: ông Phan Thanh Nhã – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 145/2023/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Võ Thị Diễm M, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp V, xã H, huyện L, tỉnh B, (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: anh Nguyễn Trọng T, sinh năm 1989; địa chỉ: số nhà 164, Tổ 40 đường T, ấp T, xã TT, thị xã H, tỉnh T (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị chị Võ Thị Diễm M trình bày:
Chị và anh Nguyễn Trọng T chung sống với nhau từ năm 2012, do tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng anh chị chung sống thời gian đầu hạnh phúc đến năm 2017 thì hai vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân của mâu thuẫn là vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên gây gỗ. Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, vợ chồng anh chị đã ly thân thời gian dài từ năm 2017 đến nay không còn sống chung nên nay chị yêu cầu ly hôn với anh T.
Về con chung: anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Võ Tường V, sinh năm 2014, từ ngày vợ chồng tôi ly thân thì tôi nuôi dưỡng con chung do đó nay yêu cầu ly hôn tôi yêu cầu tiếp tục được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Ý kiến và yêu cầu của bị đơn anh Nguyễn Trọng T:
Anh T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt nên không có lời trình bày.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký Tòa án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị Diễm M với anh Nguyễn Trọng T. Về con chung: giao con chung là cháu Nguyễn Võ Tường V, sinh năm 2014 cho chị Võ Thị Diễm M trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục, ghi nhận chị M không yêu cầu Tú cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung chị M không yêu cầu nên không giải quyết.
Chị M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: chị Võ Thị Diễm M có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Trọng T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại các Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: chị M và anh T chung sống vợ chồng có đăng ký kết hôn vào năm 2012 tại Uỷ ban nhân dân xã Trường Tây, thị xã H, tỉnh T nên hôn nhân của chị M, anh T là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Theo chị M thì hôn nhân của anh chị có nhiều mâu thuẫn, không có tiếng nói chung và anh chị đã ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Anh T đã được toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt thể hiện không có thiện chí muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng với chị M. Xét thấy mẫu thuẫn vợ chồng anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Diễm M đối với anh Nguyễn Trọng T, chị M được ly hôn với anh T.
Về con chung: từ ngày anh chị ly thân cho đến nay thì chị Võ Thị Diễm M chăm sóc nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Võ Tường V, sinh năm 2014. Cháu V cũng có nguyện vọng muốn sống chung với mẹ, do đó chấp nhận yêu cầu của chị M, giao con chung là cháu Nguyễn Võ Tường V, sinh năm 2014 ch chị M chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, ghi nhận chị M không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: chị M, anh T không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh T là phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 9, 51, 53, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị Diễm M với anh Nguyễn Trọng T.
2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Võ Tường V, sinh năm 2014 cho chị Võ Thị Diễm M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, ghi nhận chị M không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai có quyền cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: chị M, anh T không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Võ Thị Diễm M phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị M đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu 0021542 ngày 25 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã H, tỉnh T, chị M đã nộp xong án phí.
Án dân sự sơ thẩm xử công khai báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh T trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh T; - VKSND thị xã H; - Chi cục THADS thị xã H; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Cẩm Ly |