- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trương Văn Y.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 60/2023/HNGĐ-ST Ngày: 25 – 5 – 2023 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đô
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Văn Thành
2. Bà Nguyễn Hoa Lài
- Thư ký phiên tòa: Bà Văn Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Ông Lê Thanh Tưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 432/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2022 về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 49/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Trương Văn Y, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp A, xã Tân H, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
Bị đơn: Chị Lê Thị K, sinh năm 1989 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp A, xã Tân H, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn anh Trương Văn Y trình bày:
Anh và chị Lê Thị K quen biết nhau, sau một thời gian tìm hiểu thì tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân H, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang vào ngày 24/02/2017. Cuộc sống vợ chồng lúc đầu rất hạnh phúc, nhưng đến tháng 11/2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống chung nên cả hai thường xuyên xảy ra cự cãi. Từ đó không tìm được tiếng nói chung khiến hôn nhân đã rơi vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nhận thấy không thể hàn gắn được nên anh làm đơn yêu cầu ly hôn với chị Lê Thị K.
Về con chung: Anh Trương Văn Y và chị Lê Thị K có 01 con chung tên Trương Minh P (nam) sinh ngày 14/5/2017. Hiện con chung đang sống chung đang sống với chị K. Anh Trương Văn Y cho rằng cháu Phát đã quen với việc sống chung với mẹ, do đó anh đồng ý giao cháu Phát cho chị K tiếp tục nuôi dưỡng và anh không cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết .
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Quá trình tố tụng tại Tòa án, chị Lê Thị K dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của chị Lê Thị K đối với vụ án này.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo đúng trình tự, thủ tục tố tụng. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ, quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn vắng mặt nhiều lần không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trương Văn Y được ly hôn với chị Lê Thị K; Về con chung: Giao 01 con chung tên Trương Minh P (nam) sinh ngày 14/5/2017 cho chị Lê Thị K tiếp tục nuôi dưỡng, anh Y không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho anh Trương Văn Y không ai được quyền cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Đề nghị Hội đồng xét xử tách ra không xem xét giải quyết, nếu sau này chị Lê Thị K có tranh chấp thì có quyền khởi kiện thành vụ án khác.
Về án phí: Đề nghị buộc nguyên đơn anh Trương Văn Y phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh Trương Văn Y và chị Lê Thị K sau một thời gian tìm hiểu nhau và tự nguyện tiến tới hôn nhân, anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Tân H vào ngày 24/02/2017. Quá trình chung sống do phát sinh mâu thuẫn nên anh Y yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Lê Thị K và yêu cầu giải quyết con chung; Chị Lê Thị K có địa chỉ cư trú tại Ấp A, xã Tân H, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là vụ án hôn nhân và gia đình về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Trương Văn Y có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Chị Lê Thị K do đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xét xử vắng mặt anh Y và chị K.
Về nội dung giải quyết vụ án:
Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn:
Hôn nhân giữa anh Trương Văn Y và chị Lê Thị Kiểu được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân H, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang vào ngày 24/02/2017 nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống anh Y và chị K phát sinh mâu thuẫn từ tháng 11/2022 không thể giải quyết được, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên thường xuyên cãi nhau, anh Y cho rằng cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc và không thể hàn gắn được nữa. Quá trình tố tụng, Tòa án đã tiến hành hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng, chị K dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên hòa giải không thành, anh Y vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện với chị K, cho thấy hôn nhân của anh Y và chị K đã rơi vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của anh Y là có cơ sở chấp nhận. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cho anh Y được ly hôn với chị K.
Xét yêu cầu nuôi con chung của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy anh Trương Văn Y và chị Lê Thị Kiểu có 01 con chung tên Trương Minh P (nam) sinh ngày 14/5/2017, cháu Phát đang sống cùng chị K. Anh Trương Văn Y cho rằng cháu Phát đã quen với việc sống chung vớichị K, do đó anh đồng ý giao cháu Phát cho chị K tiếp tục nuôi dưỡng, quá trình tố tụng chị K dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của chị K về vấn đề cấp dưỡng, do đó Tòa án ghi nhận việc anh Y không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh Trương Văn Y không ai được quyền cản trở.
Quá trình tố tụng nguyên đơn anh Trương Văn Y trình bày không có tài sản chung và nợ chung, tuy nhiên quá trình tố tụng Tòa án chưa ghi nhận được ý kiến của bị đơn chị Lê Thị K. Do đó, để bảo vệ quyền lợi của chị Lê Thị K, Hội đồng xét xử tách ra không xem xét giải quyết, nếu sau này chị Lê Thị K có tranh chấp thì có quyền khởi kiện thành vụ án khác.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc anh Trương Văn Y phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp, có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trương Văn Y.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Trương Văn Y được ly hôn với chị Lê Thị K.
2. Về con chung: Giao con chung tên Trương Minh P (nam) sinh ngày 14/5/2017 cho chị Lê Thị K tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Trương Văn Y không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh Trương Văn Y không ai được quyền cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết, nếu sau này có phát sinh tranh chấp thì đương sự có quyền khởi kiện thành vụ án khác.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Trương Văn Y phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng). Chuyển 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí anh Trương Văn Y đã nộp theo biên lai số 0012201 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A thành tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm (anh Y đã nộp xong).
5. Nguyên đơn anh Trương Văn Y, bị đơn chị Lê Thị K được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - Các đương sự; - CQ THA DS h.Châu Thành A; - VKSND h.Châu Thành A; - UBND xã Tân H; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Đô |